ĐẶT VẤN ĐỀ Phân bố của véc-tơ có liên quan mật thiết đến dịch tễ học của bệnh SR, bởi ở đâu có mặt của véc-tơ thì ở đó có nguy cơ lan truyền SR. Mối liên quan giữa rừng - véc-tơ sốt rét và bệnh sốt rét luôn luôn là một vấn đề lớn. Hội nghị các chuyên gia vùng Đông Nam Á của WHO đã được tổ chức ở New Delhi (1991) để thảo luận các khía cạnh khác nhau về rừng liên quan đến SR. Những tham luận này đã được đăng trong tài liệu "Sốt rét rừng Đông Nam Á" do V.
Kondrashin chủ biên, 1991 [35]. Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến việc thay đổi cảnh quan do hoạt động của con người ảnh hưởng đến phân bố véc-tơ và tình hình bệnh tật do các véc-tơ truyền. Chẳng hạn ở vùng trồng chè của Assam (Ấn Độ) người ta đã trồng nhiều cây có bóng ram ở hai bên bờ suối để ngăn cản sự phát triển của bọ gậy An. Ở Thái Lan, To Bunnag, S.
Sornamani và ctv (1979) đã điều tra ảnh hưởng của thay đổi môi trường sinh thái do xây dựng đập ngăn nước đến véc-tơ sốt rét và tinh hinh bénh tat 6 dap Chao Nen, tinh Kanchanaburi. Ở Việt Nam đã có một vài nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường đến phân bố các véc-tơ SR ở miền Nam, miền Trung-Tây nguyên. Vũ Thị Phan và civ (1992) nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay đổi môi sinh đến phân bố véc-tơ SR ở miền Tây Nam Bộ [15]; Lê Khánh Thuận và ctv (1997) nghiên cứu ảnh hưởng của các công trình thủy lợi đến phân bố véc-tơ SR miền Trung-Tây Nguyên [18]. Ở miền Bắc thì hầu như chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của môi trường đến phân bố véc-tơ SR.
Miễn Bắc Việt Nam nằm trong vùng chí tuyến Bắc từ 16° đến 23° vĩ độ Bác. Với vị trí địa lý tự nhiên trải dài theo hướng Bắc-Nam, có địa hình, độ cao, thổ nhưỡng, thảm thực vật, khí hậu và nhiều yếu tố tự nhiên khác không đồng nhất nên thành phần, phân bố của véc-tơ SR khác nhau giữa các _ vùng. Trong cùng một vùng địa lý có thể có một hay vài véc-tơ chính cùng với một vài véc-tơ phụ. Mật độ của các véc-tơ cùng với tuổi quần thể của 4 chúng tại một thời điểm nào đó sẽ quyết định khả năng truyền bệnh tại thời điểm đó.
Nghiên cứu phân bế véc-tơ theo không gian và thời gian giúp chúng ta dự báo được mức độ lan truyền SR cho từng địa phương. Khoảng hơn 2 thập kỷ trở lại đây, các sinh cảnh rừng miền Bắc Việt Nam thay đổi nhiều do khai thác rừng, cháy rừng, phá rừng lấy đất canh tác. làm cho hệ sinh thái rừng bị suy giảm, đồng thời việc bảo tồn và trồng mới đã làm phục hồi hệ sinh thái rừng [17]. Sự thay đổi các sinh cảnh rừng làm ảnh hưởng tới môi trường sống của các quần thể sinh vật trong đó có các quần thể muỗi.
Tìm hiểu tác động của sự thay đổi các sinh cảnh rừng ở miền Bắc đến véc-tơ SR, nhất là phân bố của chúng là vấn đề cấp thiết nhằm góp phần cung cấp thông tin cho việc lựa chọn và áp dụng biện pháp phòng chống SR thích hợp cho từng vùng. Với những lý do trên, đề tài “Phân bố Anopheles và véc-tơ sốt rét tại một số sinh cảnh rừng hiện nay ở miền Bắc Việt Nam” được tiến hành với mục tiêu đánh giá thực trạng phân bố muỗi Azopheles và véc tơ SR ở một số sinh cảnh rừng đại diện của miền Bắc hiện nay. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan tới đề tài Các vùng địa lý khác nhau có những loài muỗi Azopheles và các véc-tơ truyền SR khác nhau.
Muỗi Anopheles có mặt ở hầu hết các nơi trên thế giới trừ những nơi băng giá quanh năm. Ba phần tư số loài muỗi sống ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi có khí hậu nóng ẩm thuận lợi cho chúng phát triển và sống sót [26]. Trên thế giới có hơn 400 loài Anopbheles nhưng chỉ có khoảng 70 loài có khả năng truyền bệnh SR ở người, trong đó khoảng 30 loài là véc-tơ truyền bệnh chính (White G. Hai véc-to SR chính ở vùng rừng núi Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) là An.minimus và An.dius đã được nhiều tác giả nghiên cứu về nhiều khía cạnh.
Về phân bố của 2 loài này ở Đông Nam Á có thể sơ lược như sau: An.minimus phân bố ở Ấn Độ, Băng-La-Đét, Nê-pan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam-Pu-Chia, Việt Nam, Ma- Lai-Xia, phía nam Trung quốc, Đài Loan, Nhat Ban [27].minimus dugc coi la véc-to SR quan trọng ở vùng Đông Nam Á, nhất là ở các vùng chân đồi, rừng- nơi có những dòng suối nhỏ nước trong chảy chậm là thủy vực thuận lợi cho sự sinh sản của chúng [34]. Ở Thái Lan, Ismail va cộng sự (1974,1975, 1978) nghiên cứu những quần thể An.minimus vùng bìa rừng thấy rằng có 2 đỉnh phát triển vào đầu và cuối mùa mưa, và loài này là trung gian chính truyền bệnh sốt rét ở vùng rừng núi Thai Lan [28].dirus có mặt ở Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Lào, Căm-Pu- Chia, Mién-Dién, Ma- Lai-Xia, An Độ, Băng-La-Đét. Một số nghiên cứu ở Thái Lan, Băng-La-Đét, Miến-Điện thấy rằng các quần thể An.dirus phát triển rộng trong mùa mưa bởi khả năng thích ứng với các ổ nước tạm thời làm nơi đẻ và thu hẹp lại trong mùa khô ở vùng phân bố của chúng [32].dirus có môi trường sống gắn với rừng. Khi hệ sinh thái rừng bị thay đổi do tác động của con người như phát quang để trồng cây lương thực (ngô, lúa, sắn.đirus co cụm theo rừng và vai trò truyền bệnh của loài này có khuynh hướng bị thay thế bởi An.
Về ảnh hưởng của môi trường đến các véc tơ SR cũng đã có một số nghiên cứu. Delas Llagas đã có đánh giá ảnh hưởng của 6 những thay đổi môi trường sinh thái đến véc-tơ sốt rét ở một số nước Đông Nam Á. Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan tới đề tài. Đầu thế kỷ XX, Mathis Leger (1910) công bố 15 loài muỗi ở Việt Nam, Borel (1926) mô tả 13 loài muỗi Anopheles ở Nam Bộ và Trung Bộ, Toumanoff C.
Năm 1940-1946 Galliard và Đặng Văn Ngữ đã xây dựng bảng định loại muỗi Anopheles ở Việt Nam gồm 22 loài [40]. Viện Sốt rét-Ký sinh trùng và Côn trùng đã xuất bản khoá định loại muéi Anopheles ở Việt Nam (1968) xác định 32 loài muỗi ở Việt Nam và bảng định loại muỗi, quăng bọ gậy Anopheles ở Việt Nam (1987) đã xác định là 56 loài [22]. Trần Đức Hinh (1995) đưa ra danh sách 59 loài Anopheles trên toàn quốc [4, 5] và phân tích sự phân bố của muỗi Anopheles theo cảnh quan, độ cao và theo vùng địa lý tự nhiên. Tác giả đã có một số nhận xét về phân bố: 5 loài bắt gặp ở mọi vùng tự nhiên, 20 loài chỉ phát hiện ở vùng núi đồi, hai loài chỉ phân bố ở vùng nước lợ, 29 loài chỉ gặp ở một số vùng địa lý nhất định.
Các tác giả đã xác định vùng phân bố của các véc-tơ SR và nhiều loài muỗi Anopheles khác. Lê Khánh Thuận và ctv (1997), nghiên cứu sự liên quan giữa muỗi truyền SR với các hệ thống thủy lợi miền Trung-Tây Nguyên thấy rằng mật độ các loài Anopheles và các véc-tơ SR giảm đáng kể sau khi các hệ thống này được xây dựng nhất là những loài gắn bó với rừng như An. Sau khi dân cư, thảm thực vật ven các công trình thủy lợi đã ổn định trở lại, mật độ của các loài muỗi có tập tính sống gần ngudi nhu An.aconius lại tăng lên [18]. Véc-tơ SR chính Án.minimnus phân bố chủ yếu ở vùng rừng núi, cao nguyên, trung du trên toàn quốc, ngoài ra còn thấy ở một số địa phương 7 vùng đồng bằng sông Hồng.
Nguyễn Hữu Đức (1973) đã phân tích theo độ cao và thời gian có mặt trong năm của An.minimus tai 71 dia diém ở miền Bắc Việt Nam và nhận thấy rằng loài muỗi này có mặt quanh năm ở độ cao từ 0 đến trên 800 mét nhưng hiếm gặp ở độ cao trên 1500 mết (so với mực nước biển), có 2 đỉnh cao về mật độ vào các tháng 3-4-5 và tháng 10-11 [2]. Nguyễn Thọ Viễn (1992), Trần Đức Hinh (1995) đã tổng kết rằng An.minimus có mặt trên hầu khắp các vùng địa lý trên toàn quốc, mật độ cao ở vùng rừng núi [5]. Nguyễn Đức Mạnh và ctv (2002) đã nghiên cứu ảnh hưởng của trồng rừng và phòng chống véc-tơ tới các quần thể Anopheles va véc-tơ SR dựa trên các kết quả điều tra thực địa và phân tích các hệ enzyme [30]. Dựa trên các dấu hiệu di truyền của các quần thể An.minimus khác nhau ở Việt Nam, Van Bortel W.,(2000), Hồ Dinh Trung, (2003) đã tách ra thành hai loài là An.mimimus A và An.
Hai loài này có cùng vùng phân bố, không phân biệt được bằng các dấu hiệu hình thái nhưng có những sự khác nhau về di truyền học và sinh thái học như tập tính đốt máu, tập tính tri dau [36, 37].dirus, véc-tơ SR chính chỉ thấy có mặt ở vùng rừng núi từ 20 vĩ độ Bắc (Nam Thanh Hoá) trở vào Nam [9]. Phan b6 cua An.dirus liên quan chặt chẽ với rừng, vườn cây, và chỉ vào nhà hút máu ban đêm.đirus thay đổi, thường ở những vũng nước mưa tạm thời, các vũng chân người, súc vật hay suối cạn có bóng cây mát. Bọ gậy An.dirus cũng bắt được ở các đòng suối chảy chậm dưới tán cây. Các thuỷ vực có bọ gậy An.dirus thường có chiều rộng không quá 2 mét, độ sâu không quá 30 cm [32].
Vũ Thị Phan (1968) nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý, sinh thái muỗi An.đirus ở Quỳnh Thắng, Nghệ An, đồng thời cũng nêu ra vai trò dịch tễ quan trọng của loài này trong vùng [13]. Vùng ven biển miền Bắc Việt Nam có sốt rét lưu hành trước đây, An.subpictus được coi là véc-tơ quan trọng. Bùi Duy Quang (1973), đã nghiên cứu sự liên quan giữa An.subpici¿s, độ mặn và bệnh sốt rét vùng ven biển miền Bác Việt Nam thấy bọ gậy An.subpictus chỉ có ở các thuỷ vực có độ mặn từ 0,01g NaCl/lít đến 8,0 g NaCl/Iít, cao nhất từ 5-7g/lít [16]. Vũ Thị Phan và ctv (1992), đã nghiên cứu sự thay đổi môi sinh ở đồng bằng ven biển Nam Bộ do canh tác của con người đã làm giảm đáng kể mật độ véc-tơ SR chính An.sund2icus trong vùng và dẫn tới giảm đáng kể tỷ lệ SR ở trẻ em dưới 9 tuổi [15].
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3. Thời gian và địa điểm Thời gian nghiên cứu từ tháng 9 năm 2002 đến tháng 10 năm 2005.