đặt vấn đề cho phép hay không cho phép phản biện. Ba là, chủ thể thực hiện phản biện xã hội chính là toàn thể nhân dân. Từ “xã hội” ở đây đã nói lên phần nào chủ thể của hoạt động phản biện xã hội. Phản biện chỉ có thể “xã hội” khi do toàn thể nhân dân thực hiện.
Không nhất thiết phải là tất cả các cá nhân người dân trong xã hội thực hiện thì mới là phản biện xã hội. Hoạt động phản biện xã hội thể hiện tính quần chúng, tính nhân dân khi kết quả thực hiện nói lên nỗi niềm của nhân dân, của đại đa số các tầng lớp trong xã hội. Việc lấy ý kiến phản hồi phải từ đông đủ mọi thành phần của xã hội. Người phản biện là mọi tầng lớp, thành phần của xã hội, đó có thể là nông dân, công nhân, học sinh, sinh viên, hay các cơ quan, tổ chức liên hiệp phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh, người cao tuổi,… điều này làm nên tính quần chúng của hoạt động phản biện.
Bốn là, về nội dung của hoạt động phản biện. Khoản 2 Điều 9 Quy chế về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định nội dung của hoạt động phản biện xã hội là phản biện về: - Sự cần thiết, tính cấp thiết của văn bản dự thảo; - Sự phù hợp của văn bản dự thảo với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; thực tiễn của đơn vị, địa phương; - Tính đúng đắn, khoa học, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính khả thi của văn bản dự thảo. - Dự báo tác động, hiệu quả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của văn bản dự thảo. 8 Năm là, về khách thể của hoạt động phản biện xã hội.
Khách thể của hoạt động phản biện xã hội chính là những nội dung của dự thảo chính sách, đường lối, chủ trương, pháp luật của Đảng và nhà nước. Nói cách khác, khách thể của hoạt động phản biện xã hội chính là những chính sách, đường lối, chủ trương của Đảng và nhà nước khi còn đang là dự thảo. Cần phân biệt giữa đối tượng và khách thể của hoạt động phản biện xã hội. Khách thể là cái mà chủ thể hướng đến để thực hiện phản biện xã hội, đối tượng chính là sự vật chứa đựng khách thể mà khi chủ thể muốn hướng đến khách thể phải tác động vào nó.
Cụ thể, nếu khách thể của hoạt động phản biện xã hội là nội dung những chính sách, đường lối, chủ trương thì đối tượng của hoạt động phản biện xã hội chính là những văn bản dự thảo chính sách, đường lối, chủ trương đó. Phản biện xã hội - đứng về phía nhân dân là một hoạt động mới thể hiện sự dân chủ, tiến bộ trong quá trình làm chính sách của Đảng, nhà nước, thể hiện sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Được công nhận trong văn kiện Đại hội Đảng, trong Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phản biện xã hội từ bản chất là một quyền năng cơ bản của con người chính thức trở thành quyền Hiến định, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ hơn của một thiết chế mà trong đó, nhân dân là người làm chủ. Đứng về phía chính quyền, về tổ chức thực hiện, phản biện xã hội là vai trò, nhiệm vụ mới và ngày càng quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Phản biện xã hội trở thành hoạt động chính trị cơ bản và đại diện cho bộ máy quản lý nhà nước tiến bộ, văn minh. Từ khi có Quy chế giám sát và phản biện xã hội do Bộ Chính trị ban hành, khái niệm cũng như những vấn đề xoay quanh phản biện xã hội đã được sáng tỏ và hiểu một cách thống nhất hơn. Hiện nay, khái niệm phản biện xã hội được hiểu thống nhất theo Quy chế giám sát và phản biện xã hội: “Phản biện xã hội là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước”. Hoạt động phản biện xã hội trong lịch sử hình thành và phát triển của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
9 Ngay từ ngày đầu hình thành với vị trí là một tổ chức ngoại biên mang tên Mặt trận Dân tộc thống nhất (Mặt trận Thống nhất Phản đế), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã gắn với tính chất hoạt động là tập hợp và lãnh đạo quần chúng. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tháng 7 năm 1936, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Thượng Hải (Trung Quốc) đã quyết định thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương nhằm tập hợp rộng rãi các giai tầng, đảng phái, các đoàn thể chính trị, tôn giáo khác nhau để đấu tranh đòi những quyền dân chủ tối thiểu nhất, phù hợp với Mặt trận Bình dân ở Pháp. Từ tháng 9 năm 1937, một loạt các tổ chức ngoại vi của Mặt trận như Thanh niên Dân chủ Đông Dương, Hội Cứu tế bình dân, Công hội, Nông hội ra đời cùng với việc hoạt động công khai và nửa công khai của các tổ chức quần chúng như hội ái hữu, tương tế, các hội hoạt động âm nhạc. Tháng 3 năm 1938, Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương đổi tên thành Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương, gọi tắt là Mặt trận dân chủ Đông Dương.
Thế chiến thứ hai bùng nổ (1939), tại Đông Dương, chính quyền thực dân ban bố tình trạng thời chiến, đàn áp thẳng tay Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Tháng 11 năm 1939, Đảng Cộng sản Đông Dương đã chuyển hướng chỉ đạo, chuyển các hoạt động của Mặt trận Dân chủ thành hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, nhằm liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương, các giai tầng, đảng phái, cá nhân có tinh thần phản đế muốn giải phóng dân tộc chống đế quốc, phát triển dưới hình thức bí mật và công khai. Năm 1940, Nhật tiến vào Đông Dương, Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát xít Pháp Nhật với tên gọi Việt Nam Độc lập đồng minh Hội, gọi tắt là Việt Minh được thành lập nhằm tranh thủ sự ủng hộ của lực lượng đồng minh (Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc), đồng thời tập hợp lực lượng, chờ thời cơ đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân. Khi quân Pháp tái chiếm Đông Dương, nhằm mở rộng hơn nữa khối đoàn kết dân tộc, các lãnh đạo Cộng sản đã hình thành một Ban vận động thành lập Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Hội Liên Việt, gồm 27 người, với đại biểu Việt Minh là Hồ Chí Minh, chính thức ra mắt ngày 29 tháng 5 năm 1946.
10 Năm 1951, Đảng Lao động Việt Nam ra hoạt động công khai. Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt được hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt. Sau năm 1954, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phá hoại Hiệp định Giơnevơ chiếm đóng miền Nam, chia cắt lâu dài nước ta. Cách mạng Việt Nam lúc này có hai nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà.Trong bối cảnh đó, ngày10/9/1955 Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất họp tại Hà Nội đã quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thông qua Cương lĩnh nhằm đoàn kết mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình trong cả nước để đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời với bản Tuyên ngôn và Chương trình hành động 10 điểm, nội dung cơ bản là đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân với mục tiêu đấu tranh “Phải hoà bình! Phải độc lập! Phải dân chủ! Phải cơm no, áo ấm! Phải hoà bình! Thống nhất tổ quốc!” nhằm đánh đổ chế độ độc tài tay sai của đế quốc Mỹ. Ngày 20/4/1968 trên cơ sở thắng lợi và khí thế của Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam ra đời, nhằm đoàn kết, tranh thủ thêm tầng lớp trí thức, tư sản dân tộc tiến bộ ở thành thị, mở rộng thêm lực lượng trên mặt trận chống Mỹ và các thế lực tay sai. Sau khi đất nước giành độc lập, lãnh đạo ba tổ chức trên họp thống nhất ba tổ chức này thành tổ chức chính trị duy nhất là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Có thể thấy, trong giai đoạn đấu tranh giành độc lập, vai trò quan trọng và chủ yếu của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là đoàn kết, tập hợp quần chúng – lực lượng toàn dân để đấu tranh giành độc lập, giải phóng đất nước.
Ở giai đoạn này, vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chưa có nền tảng để hình thành và phát triển. Thật vậy, vào thời điểm mà đất nước vẫn còn đang trong cảnh “dầu sôi lửa bỏng”, quyền tự do của dân tộc vẫn còn đang nằm trong tay kẻ thù xâm lược thì nhiệm vụ đầu tiên, cấp bách phải là đấu tranh giành độc lập cho nước nhà, cho dân tộc. Và với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lúc đó, tính chất hoạt động ngay từ khi ra đời là tập hợp sức mạnh quần chúng, không gì quan trọng hơn nhiệm vụ đoàn kết nhân dân cả nước 11 đứng lên đấu tranh giành độc lập. Án nghị quyết về vấn đề phản đế được nêu ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 10 năm 1930 đã nêu rõ: “Những điều ấy tỏ ra rằng ở Đông-dương có nhiều lực lượng phản đế mà hiện nay cần phải hiệp lại làm một phong trào cách mạng thống nhứt để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mưu sự giải phóng cho xứ Đông-dương”.
Hay trong Chung quanh vấn đề về chính sách mới, về việc thành lập Mặt trận nhân dân phản đế, nêu rõ: “Vậy nhiệm vụ lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi chính để bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, các dân tộc ở xứ Đông Dương để cùng nhau tranh đấu để đòi những điều dân chủ đơn sơ”. Giai đoạn kết thúc chiến tranh, thống nhất nước nhà cho đến trước Đại hội Đảng lần thứ X - giai đoạn nước nhà được thống nhất, độc lập, tự do.