Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật "Hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam" của tác giả Bùi Tiểu Nhi (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, năm 2016) được xây dựng trên nền tảng quan điểm bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, nơi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trong khoa học pháp lý, dân chủ và kiểm soát quyền lực là hai yếu tố song hành giữ thế cân bằng của một xã hội tiến bộ. Đặc biệt, trong điều kiện thể chế chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền, việc thiết lập và vận hành cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm ngăn ngừa xu hướng lạm quyền, chủ quan, duy ý chí và quan liêu trở thành yêu cầu mang tính sống còn. Một trong những phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước mang tính dân chủ trực tiếp và sâu rộng nhất chính là phản biện xã hội.
Thuật ngữ "phản biện xã hội" lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2006). Tiếp đó, Đại hội XI (năm 2011) tiếp tục khẳng định dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ, là mục tiêu và động lực phát triển. Về phương diện pháp lý, sự ra đời của Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, cùng việc hiến định hóa tại Điều 9 Hiến pháp năm 2013 và quy định cụ thể tại Chương VI Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 đã tạo lập hành lang pháp lý cho hoạt động này. Tác giả chỉ ra rằng, bối cảnh thực tiễn đã có bước chuyển dịch quan trọng: từ giai đoạn ban đầu bàn luận về khái niệm, lý do và thời điểm phản biện, xã hội đã chuyển sang giai đoạn tìm kiếm giải pháp thực thi hiệu quả nhằm đưa phản biện đi vào thực chất đời sống chính trị.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể nhằm trả lời các câu hỏi mang tính bản chất:
- Khẳng định các nền tảng lý luận cơ bản xoay quanh hoạt động phản biện xã hội và phân tích mối quan hệ mật thiết giữa thiết chế Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với hoạt động phản biện.
- Lý giải nguyên nhân vì sao Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là chủ thể được giao trọng trách phản biện xã hội mà không phải một thiết chế nào khác trong hệ thống chính trị.
- Làm rõ phạm vi phản biện xã hội: Xác định liệu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quyền phản biện đối với tất cả các dự thảo văn bản của cơ quan nhà nước hay bị giới hạn bởi tính "liên quan trực tiếp".
- Phân biệt sự khác nhau giữa phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với phản biện xã hội của các nhà khoa học, giới trí thức và báo chí.
- Chỉ ra những rào cản, trở ngại thể chế tác động đến tính độc lập và hiệu quả phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng triển khai hoạt động phản biện xã hội, chỉ ra thành tựu và vướng mắc, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị xây dựng cơ chế thực thi khả thi.
Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào hệ thống các vấn đề lý luận và pháp lý xoay quanh hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời xem xét bản chất tổ chức của Mặt trận Tổ quốc trong mối tương quan với hoạt động phản biện. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn dưới góc độ khoa học Luật học, thiên về Luật Hiến pháp, tiếp cận Mặt trận Tổ quốc và hoạt động phản biện trong mối quan hệ chính trị - xã hội và quản lý nhà nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của công trình dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Bên cạnh đó, tác giả kế thừa và tổng hợp các quan điểm lý luận về phản biện xã hội từ các công trình nghiên cứu trong nước, tiêu biểu gồm:
- Quan điểm của TS. Trần Ngọc Nhẫn (2006) về phản biện dưới góc độ nhận xét, đánh giá của giới khoa học;
- Nghiên cứu của PGS.TS. Vũ Văn Nhiêm (2007) về bản chất phân tích, lập luận nhằm khẳng định hoặc phản bác dự thảo, phân biệt giữa phản biện xã hội và phản biện nội tại của nhà nước;
- Quan điểm của PGS. Nguyễn Văn Động (2011) nhìn nhận phản biện xã hội dưới góc độ phản ứng mang tính phủ định trên tinh thần xây dựng;
- Nhận định của PGS.TS. Bùi Xuân Đức (2010) về tính hai mặt của phản biện xã hội: vừa khẳng định nội dung đúng đắn, vừa phát hiện điểm chưa phù hợp để kiến nghị sửa đổi;
- Các công trình chuyên khảo của TS. Hồ Bá Thâm và CN. Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (2010), tác giả Trần Đăng Tuấn, cùng các luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị Hải Vân và Lê Phương Mai.
Về cơ sở pháp lý, khóa luận vận dụng trực tiếp các văn bản pháp luật và văn kiện chính trị gồm:
- Hiến pháp năm 1992 (Điều 9) và Hiến pháp năm 2013 (Điều 9, Điều 28);
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011);
- Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội;
- Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 (đặc biệt là Điều 4, Điều 33 và Chương VI);
- Quyết định số 501/QĐ-TTg ngày 15/04/2015 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm tổ chức Diễn đàn khoa học chuyên nghiệp của trí thức khi tham gia hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng là phương pháp nghiên cứu pháp lý truyền thống kết hợp phân tích liên ngành chính trị - luật học. Các phương pháp cụ thể bao gồm: phân tích - tổng hợp tài liệu, phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh pháp luật (so sánh chức năng giữa các chủ thể), phương pháp diễn dịch và quy nạp. Nguồn dữ liệu hoàn toàn xuất phát từ văn bản quy phạm pháp luật, văn kiện chính trị chính thức, các ấn phẩm tạp chí chuyên ngành luật học (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Luật học, Tạp chí Tổ chức nhà nước) và các vụ việc thực tiễn phát sinh trong đời sống xã hội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận – pháp lý cho hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Chương 1 tập trung giải quyết toàn diện các vấn đề nhận thức và khung pháp lý nền tảng. Phân tích ngữ nghĩa Hán - Việt, tác giả chỉ rõ: "phản" là tác động ngược lại, đáp lại; "biện" là lập luận, chứng minh, đưa ra lý lẽ thuyết phục. Từ khái niệm pháp lý tại Khoản 2 Điều 1 Quy chế ban hành kèm Quyết định 217-QĐ/TW, tác giả xác lập 5 đặc trưng bản chất của phản biện xã hội:
- Về tính chất: Là sự phản hồi ý kiến từ xã hội bằng việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản.
- Về đối tượng: Chỉ bao gồm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước khi đang còn là dự thảo (chưa phát sinh hiệu lực thi hành).
- Về chủ thể: Là toàn thể nhân dân, mang tính quần chúng sâu rộng, không giới hạn ở một nhóm cá nhân hay tầng lớp đơn lẻ.
- Về nội dung: Tập trung vào sự cần thiết, tính cấp thiết; sự phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và thực tiễn địa phương; tính đúng đắn, khoa học, khả thi; dự báo tác động chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại (theo Khoản 2 Điều 9 Quyết định 217).
- Về khách thể: Là nội dung các chủ trương, chính sách, phân biệt với "đối tượng" là hình thức văn bản dự thảo chứa đựng nội dung đó.
Về mặt lịch sử, tác giả tái hiện quá trình phát triển của Mặt trận qua các thời kỳ: Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương (1936), Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1938), Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương (1939), Mặt trận Việt Minh (1941), Hội Liên Việt (1946), Mặt trận Liên Việt (1951), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955), Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960), Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam (1968), và sự hợp nhất thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam duy nhất sau năm 1975. Luận điểm trọng tâm được rút ra: Trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc, chức năng duy nhất của Mặt trận là tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân để kháng chiến; giai đoạn sau 1975 đến trước năm 2006, Mặt trận tập trung củng cố chính quyền và giám sát (Điều 9 Hiến pháp 1992); chỉ từ Đại hội X (2006) và Hiến pháp 2013, vai trò phản biện xã hội mới chính thức được xác lập và phát triển.
Bên cạnh 4 tính chất được quy định tại Khoản 3 Điều 2 Quyết định 217 (tính nhân dân, tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, tính xây dựng, tính khoa học và thực tiễn), tác giả lập luận và bổ sung thêm 2 tính chất cơ bản:
- Tính pháp lý: Hoạt động này đã chuyển hóa từ quyền tự do ngôn luận tự nhiên thành một nghĩa vụ, thẩm quyền hiến định và luật định của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Tính khách quan: Yêu cầu bắt buộc để phản biện không rơi vào hình thức, dung hòa hay e dè trước cơ quan soạn thảo có quyền lực nhà nước.
Đặc biệt, tác giả luận giải 3 tiêu chí cốt lõi chứng minh vì sao Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là chủ thể thích hợp nhất được trao quyền phản biện: (1) Phải là tổ chức hoạt động mang tính công, thường xuyên, phi lợi nhuận; (2) Không phải là cơ quan trực tiếp lập chính sách hay ban hành pháp luật, loại trừ nguy cơ "vừa đá bóng vừa thổi còi"; (3) Phải là tổ chức có tính quần chúng sâu rộng, quy tụ mọi giai tầng xã hội để phản ánh đầy đủ ý chí nhân dân.
Chương 2: Hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Chương 2 phân tích sâu các khía cạnh thực định và cơ cấu thể chế trong quá trình thực hiện phản biện:
- Phạm vi phản biện: Quy định pháp luật phân định rõ thẩm quyền: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì phản biện các dự thảo đường lối, chính sách, pháp luật chung của Đảng và Nhà nước; trong khi 5 tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội thành viên (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Tổng Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh) chủ trì phản biện các dự thảo liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, hội viên mình. Tuy nhiên, tác giả phát hiện một khoảng trống pháp lý nghiêm trọng: cụm từ "liên quan trực tiếp" tại Khoản 1 Điều 33 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chưa hề được định nghĩa hay có tiêu chí xác định cụ thể, dẫn đến việc thụ động và lúng túng khi xử lý các sự kiện thực tế (như sự cố môi trường cá chết tại miền Trung).
- Tính độc lập của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Dẫn nhận định của PGS.TS. Vũ Văn Nhiêm rằng trong nền dân chủ hiện đại, Mặt trận cần chuyển từ vai trò "thuốc tăng lực" (hỗ trợ tuyệt đối cơ quan công quyền) sang vai trò "thuốc đề kháng" (ngăn ngừa vi phạm, kiềm chế lạm quyền), tác giả mổ xẻ những rào cản đối với tính độc lập:
- Ngân sách hoạt động của Mặt trận hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước;
- Quy định tại Điều 4 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015 xác định Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là tổ chức thành viên, vừa giữ vai trò lãnh đạo Mặt trận;
- Cơ cấu nhân sự đan cài: Các vị trí lãnh đạo chủ chốt của Ủy ban Trung ương Mặt trận đều là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; cán bộ Mặt trận địa phương đồng thời tham gia Hội đồng nhân dân. Hiện trạng này dẫn đến xung đột lợi ích: người đứng đầu Mặt trận tham gia soạn thảo chủ trương của Đảng, sau đó lại chủ trì phản biện chính dự thảo đó, dễ dẫn đến tâm lý nể nang, làm hình thức. Tác giả khẳng định giải pháp không phải là tách rời nhân sự (vốn là đặc thù tất yếu của hệ thống chính trị), mà là xây dựng quy trình pháp lý minh bạch để bảo đảm tính khách quan.
- Tương quan với các chủ thể phản biện khác:
- Báo chí: Đóng vai trò phản biện xã hội thông qua quyền tự do ngôn luận, tạo diễn đàn công luận buộc cơ quan quản lý phải bãi bỏ hoặc điều chỉnh các dự thảo thiếu thực tiễn (các vụ việc điển hình: quy định ngực lép không được lái xe; cộng điểm thi đại học cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng; ghi tên cha mẹ vào chứng minh nhân dân; khống chế số lượng vòng hoa tang lễ; thực phẩm không để quá 8 giờ; nhiệt độ nơi bán bia phải dưới 30 độ C).
- Giới trí thức, nhà khoa học: Hoạt động thông qua Diễn đàn khoa học chuyên nghiệp thí điểm theo Quyết định 501/QĐ-TTg ngày 15/04/2015 giao cho Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS), và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST).
Để làm rõ sự khác biệt giữa hai thiết chế phản biện quan trọng, khóa luận xây dựng sự so sánh đối chiếu:
| Tiêu chí so sánh |
Phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam |
Phản biện của các nhà khoa học, trí thức |
| Cơ sở pháp lý xác lập |
Hiến định trực tiếp (Điều 9 Hiến pháp 2013) và luật định cụ thể (Luật MTTQVN 2015, Quyết định 217-QĐ/TW). |
Quyền công dân tham gia quản lý nhà nước (Điều 28 Hiến pháp 2013); thí điểm theo Quyết định 501/QĐ-TTg. |
| Tính chất trách nhiệm |
Là nhiệm vụ chính trị - pháp lý mang tính bắt buộc, thường xuyên của một thiết chế trong hệ thống chính trị. |
Là quyền tự do học thuật, mang tính xã hội, tiến hành chủ động độc lập hoặc khi có yêu cầu trưng cầu. |
| Phạm vi phản biện |
Bao quát toàn diện các dự thảo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về mọi mặt đời sống. |
Chuyên sâu vào các đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch thuộc chuyên môn khoa học - kỹ thuật. |
| Chủ thể tổ chức thực hiện |
Cơ quan Ủy ban MTTQVN các cấp phối hợp cùng 5 đoàn thể chính trị - xã hội thành viên. |
Các tổ chức viện hàn lâm, liên hiệp hội khoa học (VUSTA, VASS, VAST) điều hành các diễn đàn chuyên nghiệp. |
| Mục đích và phương thức tiếp cận |
Phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân; phát huy dân chủ và bảo đảm đồng thuận xã hội. |
Nhận xét, đánh giá, phản biện dựa trên luận cứ khoa học, kiểm định tính khả thi kỹ thuật và hiệu quả kinh tế. |
Kết quả và đóng góp
Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã đạt được các nội dung cụ thể:
- Làm rõ tính chất phản biện xã hội trong thể chế chính trị một Đảng cầm quyền tại Việt Nam: Phản biện xã hội mang bản chất xây dựng, không mang tính triệt tiêu, đối lập hay bài trừ đường lối chính trị như trong hệ thống đa đảng đối lập.
- Chứng minh tính hiệu quả của mô hình liên kết giữa Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức khoa học kỹ thuật thành viên thông qua dẫn chứng thực tiễn: Dự án cổ phần hóa Bệnh viện Bình Dân (TP. Hồ Chí Minh) đã phải dừng triển khai sau khi Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. Hồ Chí Minh phối hợp cùng Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh tổ chức phản biện, chỉ ra các sai phạm và điểm bất hợp lý.
- Vạch trần nguy cơ suy giảm tính độc lập xuất phát từ sự phụ thuộc ngân sách nhà nước và cơ cấu nhân sự kiêm nhiệm giữa Đảng, cơ quan dân cử và Mặt trận Tổ quốc.
Về đóng góp mới của công trình:
- Bổ sung vào hệ thống lý luận khoa học pháp lý 2 thuộc tính cơ bản của phản biện xã hội: "tính pháp lý" và "tính khách quan", mở rộng nhận thức vượt ra ngoài 4 tính chất truyền thống quy định tại Quyết định 217-QĐ/TW.
- Đề xuất yêu cầu pháp điển hóa, lượng hóa tiêu chí "liên quan trực tiếp" để xác định rõ ranh giới thẩm quyền phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thành viên, khắc phục sự tùy tiện hoặc né tránh trách nhiệm trong tổ chức thực hiện.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn nghiên cứu được rút ra từ nội dung văn bản:
- Do giới hạn tiếp cận ở góc độ Luật Hiến pháp và cấu trúc hệ thống chính trị, tác giả chưa thể phân tích sâu quy trình kỹ thuật lập pháp và thủ tục hành chính tiếp nhận, giải trình ý kiến phản biện tại các cơ quan soạn thảo cụ thể.
- Việc làm rõ khái niệm "liên quan trực tiếp" (Điều 33 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015) mới dừng lại ở việc nêu vấn đề và phản ánh bất cập qua thực tế sự kiện môi trường (như vụ cá chết miền Trung), chưa thể xây dựng dự thảo một khung tiêu chí pháp lý định lượng cụ thể.
Hướng mở nghiên cứu tiếp theo bao gồm:
- Nghiên cứu xây dựng cơ chế pháp lý chế tài bắt buộc cơ quan soạn thảo dự thảo phải có văn bản phản hồi, giải trình tiếp thu ý kiến phản biện của Mặt trận Tổ quốc trong một thời hạn luật định nghiêm ngặt.
- Nghiên cứu hoàn thiện các tiêu chí định tính và định lượng nhằm minh định khái niệm các dự án, dự thảo văn bản "liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân".
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học (đặc biệt là các bộ môn Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Lý luận Nhà nước và Pháp luật) đang thực hiện đề tài về quyền làm chủ của nhân dân và kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Cán bộ làm công tác chuyên môn tại Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và 5 đoàn thể chính trị - xã hội các cấp trong việc nghiên cứu cơ sở lý luận để xây dựng kế hoạch phản biện xã hội tại địa phương.
- Các chuyên gia nghiên cứu chính sách công và hoàn thiện pháp luật về Mặt trận Tổ quốc.
Các phần nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm:
- Luận giải 3 điều kiện bản chất để giao quyền phản biện xã hội cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Chương 1);
- Phân tích rào cản đối với tính độc lập của Mặt trận và nguy cơ xung đột lợi ích do đan xen nhân sự (Chương 2);
- Bảng tổng hợp so sánh giữa cơ chế phản biện của Mặt trận Tổ quốc và Diễn đàn khoa học chuyên nghiệp của giới trí thức theo Quyết định 501/QĐ-TTg (Chương 2).
Câu hỏi thường gặp
1. Đối tượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật đã có hiệu lực thi hành hay không?
Không. Căn cứ Khoản 2 Điều 1 Quy chế ban hành kèm Quyết định 217-QĐ/TW, đối tượng của phản biện xã hội chỉ bao gồm các dự thảo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hoạt động phản biện không áp dụng đối với các văn bản đã phát sinh hiệu lực thi hành trong thực tế đời sống.
2. Vì sao phản biện xã hội ở Việt Nam mang tính xây dựng mà không mang tính triệt tiêu như ở các quốc gia đa đảng?
Tại các quốc gia theo chế độ đa đảng, phản biện xã hội thường đi liền với sự cạnh tranh, đối lập quan điểm giữa các đảng phái nhằm phủ định, triệt tiêu chính sách của đảng đối lập. Tại Việt Nam, do hoạt động dưới sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền trên nguyên tắc nhất nguyên chính trị, phản biện xã hội nhằm phát hiện điểm thiếu sót, bất cập để bổ sung, hoàn thiện dự thảo chính sách, tuyệt đối không mang tính phủ nhận sạch trơn hay đối kháng chính trị.
3. Khóa luận chỉ ra những rào cản cơ bản nào đe dọa tính độc lập của Mặt trận Tổ quốc khi phản biện?
Tác giả nêu rõ ba rào cản: Thứ nhất, kinh phí hoạt động của Mặt trận do ngân sách nhà nước cấp; thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa lãnh đạo vừa là thành viên của Mặt trận (Điều 4 Luật MTTQVN 2015); thứ ba, sự đan cài về nhân sự khi cán bộ chủ chốt của Mặt trận là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, vừa tham gia soạn thảo chủ trương lại vừa chủ trì phản biện chính chủ trương đó.
4. Khái niệm "liên quan trực tiếp" trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015 đang gây ra vướng mắc gì?
Khoản 1 Điều 33 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định phản biện đối với dự thảo văn bản liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, nhưng pháp luật chưa có văn bản hướng dẫn thế nào là "liên quan trực tiếp". Sự bỏ ngỏ này khiến việc xác định thẩm quyền phản biện phụ thuộc vào nhận định chủ quan của Mặt trận, dẫn đến sự lúng túng khi phát sinh các sự kiện xã hội nóng như vụ cá chết tại miền Trung.
5. Điểm khác biệt mấu chốt giữa phản biện của Mặt trận Tổ quốc và phản biện của giới trí thức theo Quyết định 501/QĐ-TTg là gì?
Phản biện của Mặt trận Tổ quốc là nhiệm vụ chính trị - pháp lý mang tính hiến định (Điều 9 Hiến pháp 2013), thực hiện thường xuyên nhằm đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân. Phản biện của giới trí thức theo Quyết định 501/QĐ-TTg là cơ chế thí điểm diễn đàn khoa học chuyên nghiệp do các cơ quan như VUSTA, VASS, VAST chủ trì, dựa trên cơ sở quyền tham gia quản lý nhà nước (Điều 28 Hiến pháp 2013) và tập trung sâu vào khía cạnh luận cứ khoa học của các dự án kinh tế - xã hội.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Tiểu Nhi là một công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dưới góc độ Luật Hiến pháp. Tác giả đã làm rõ bản chất lý luận, quá trình phát triển lịch sử và các đặc trưng bản chất của cơ chế phản biện xã hội trong thể chế chính trị một Đảng cầm quyền. Điểm nổi bật của công trình là sự thẳng thắn phân tích các rào cản thể chế đối với tính độc lập của Mặt trận Tổ quốc, đồng thời kiến nghị hoàn thiện tiêu chuẩn pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tiễn dân chủ hóa nhà nước pháp quyền.