CHƯƠNG 1 BIẾN ĐỘNG LỊCH SỬ VÀ ĐỜI SỐNG VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII VỚI SỰ XUẤT HIỆN CỦA PHẠM THÁI 1. Những biến cố lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII Bước vào thế kỉ XVIII nội chiến diễn ra trong các thế kỉ XVI, XVII tạm chấm dứt nhưng loạn lạc vẫn xảy ra khắp nơi. Ở Đàng Ngoài, quyền lực rơi vào tay chúa Trịnh, vua Lê chỉ là bù nhìn. Trong giai đoạn đầu nắm quyền, các chúa Trịnh có nhiều chính sách phát triển kinh tế, văn hóa xã hội.
Các khoa thi tuyển chọn nhân tài được tổ chức khá đều đặn đã tạo nên nhiều trường thi, nhiều nhà văn hóa lớn của đất nước thời kỳ này để lại dấu ấn đáng kể như Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú… Song, những vị chúa cuối cùng như Trịnh Cán, Trịnh Tông (Khải), Trịnh Bồng càng ngày càng tham lam về quyền lực khiến bộ máy chính quyền cuối thời Lê - Trịnh vừa chuyên chế lại vừa sâu mọt. Các vua Lê thì chỉ biết khoanh tay rũ áo, trong khi các chúa cũng không còn oai phong lẫm liệt như Trịnh Kiểm ngày nào giúp vua khôi phục cơ nghiệp. Sự tồn tại song song cả cung vua và phủ chúa, nhất là sự bất lực của vua Lê trước chúa Trịnh khiến việc duy trì các thiết chế văn hóa xã hội không còn được như trước, trong đó có đạo đức phong kiến. Tính chính thống của quyền lực bị xâm phạm dẫn đến sự đảo lộn tôn ti và kỷ cương, sự lung lay các chuẩn mực đạo đức Nho giáo như tam cương ngũ thường.
Từ năm Cảnh Hưng thứ 11 (1750) đời vua Lê Hiển Tông và chúa Trịnh Sâm, ngân khố kiệt quệ, triều đình thiếu tiền nên có lệ mua quan bán tước. Họ Trịnh đặt ra lệ “cứ từ tứ phẩm trở xuống, ai nộp 600 quan thì được thăng chức một bậc. Còn những người chân trắng mà nộp 2800 quan thì được bổ làm tri phủ, 1800 quan thì được bổ tri huyện” [30, tr.55], do đó lúc bấy giờ người đi làm ruộng, đi buôn bán đều được quyền vào thi. Lịch triều hiến chương loại chí có ghi rõ: “người làm ruộng, người đi buôn cho chí người hàng thịt, người buôn bán vặt cũng đều làm đơn 14 download by : skknchat@gmail.com nộp tiền xin đi thi cả.
Ngày vào thi đông đến nỗi giày xéo lẫn nhau, có người bị giẫm chết ngay cửa trường thi. Trong trường thi, nào mang sách, nào hỏi chữ, nào mượn người thi hộ, công nhiên làm bậy, không còn biết phép thi là gì, những người có thực tài mười phần không đậu một. Tuy nhiên, hoàn cảnh tao loạn lại cũng là cơ hội cho tư tưởng vượt khỏi khuôn khổ xã hội nảy sinh. Điều đó hết sức có ý nghĩa đối với sự phát triển của văn học.
Tình hình kinh tế và chính trị như thế dẫn đến kết quả tất yếu là sự phẫn nộ của quần chúng nhân dân và sự bùng nổ của phong trào nông dân khởi nghĩa. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam, chỉ một thời gian ngắn mà lại diễn ra nhiều phong trào nông dân sôi nổi và rầm rộ như vậy1. Đặc biệt, năm 1771, ở Đàng Trong đã nổ ra một cuộc khởi nghĩa lớn nhất trong lịch sử nước ta, đó là cuộc khởi nghĩa của quân Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo. Không những thế, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ Quang Trung, lực lượng này còn buộc quân xâm lược phương Bắc phải rút khỏi lãnh thổ.
Như vậy, ý nghĩa lớn lao của cuộc khởi nghĩa này không phải ở chỗ nó lan rộng toàn quốc hay đã thực hiện một số yêu cầu bức thiết của nông dân mà ở chỗ phong trào đã thực hiện được nhiều nhiệm vụ dân tộc trọng đại: - Chấm dứt tình trạng “lưỡng đầu chế” Lê – Trịnh, xoá bỏ ranh giới chia cắt lãnh thổ Trịnh (Đàng Ngoài) - Nguyễn (Đàng Trong). - Đánh đuổi hai đội quân xâm lược: quân Xiêm ở Đàng Trong và quân Thanh ở Đàng Ngoài, bảo vệ độc lập dân tộc. Trong cuộc khởi nghĩa này nổi lên vai trò của người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ. Sau khi lên ngôi, vua Quang Trung đã có nhiều chính sách phát triển kinh tế, công thương nghiệp; chính trị, ngoại giao cũng có nhiều tiến bộ tích cực.
Đặc biệt về văn hóa, tư tưởng, triều đại Tây Sơn rất có ý thức xây dựng một nền văn hóa mang tinh thần tự chủ. Chữ Nôm được khuyến 1 Năm 1737 nhà sư Nguyễn Dương Hưng nổi dậy ở Tam Đảo. Năm 1738, Lê Duy Mật đảo chính ở Thăng Long nhưng thất bại, sau đó chạy vào miền núi Thanh Hóa xây dựng lực lượng đối đầu với triều đình. Năm 1739, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Ngô Trác Oánh nổi dậy ở Hải Dương.
Sau khi Nguyễn Cừ thua trận, Nguyễn Hữu Cầu (Quận He) đã lãnh đạo nghĩa quân, lực lượng trải rộng trên địa bàn rộng lớn suốt từ miền đồng bằng Sơn Nam đến tận Tây Bắc, đối địch với triều đình suốt 30 năm liền (1739–1769). 15 download by : skknchat@gmail.com khích phát triển. Năm 1791, nhà vua cho thành lập viện Sùng chính, mời La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp làm viện trưởng để dịch các sách chữ Hán ra chữ Nôm. Quang Trung cũng có chính sách cầu hiền rộng mở nên trong một thời gian ngắn, đã thu hút được nhiều nhân tài ra giúp triều đại mới như: Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp… Tuy nhiên, khi vương triều Tây Sơn xuất hiện cũng đặt các sĩ phu Bắc Hà vào một tình huống phải lựa chọn: sẽ phụng sự cho triều đại nào? Bên cạnh những trí sĩ thức thời đi theo nhà Tây Sơn như đã kể trên thì cũng còn nhiều trí sĩ vì tư tưởng trung quân mà chọn con đường bất hợp tác, thậm chí chống đối nhà Tây Sơn như Phạm Thái, Nguyễn Bá Xuyến… Điều đó thể hiện tính chất phức tạp trong tư tưởng và cách ứng xử trước thời cuộc của các nhà nho thời kì này.
Đời sống văn chương Việt Nam thế kỷ XVIII 1. Sự xuất hiện của những nhân tố ngoài khuôn khổ Loạn lạc bắt đầu từ thế kỉ XVI kéo dài qua thế kỷ XVII, XVIII đã khiến thiết chế phong kiến lấy Nho giáo làm nền tảng bị lay chuyển. Các vua nhà Lê mất vai trò “minh quân”, sự lấn lướt quyền lực và tiếm vị của nhà Mạc, nhà Trịnh… đã khiến nhiều kẻ sĩ và các nhân vật tài năng phân hoá trong lựa chọn xuất - xử, thay vì một kiểu tích cực nhập thế ở thời kì thịnh trị. Cái tôi cá thể ở các tác giả nhà nho ẩn dật, tài tử Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu khi nghiên cứu về vấn đề xuất - xử của các nhà Nho thời trung đại đã chỉ rõ: “Nho giáo vốn là học phái chủ trương con người sống có trách nhiệm với đời, nhập thế cứu thế, thế nhưng … xuất hay xử thì phải có điều kiện… Nếu nước trị, vua biết đến, nếu được tin dùng thì xuất, nếu ngược lại thì xử” [25, tr.
Như vậy, ẩn dật chính là mặt thứ hai của nhà nho hành đạo. Trong thời đại loạn lạc của thế kỉ XVIII, nhiều nhà nho đã lựa chọn con đường ẩn dật, lánh đời. Đó là những con người chán ghét chốn quan trường nhiều thị phi nên tìm về nơi thôn dã hoặc vùng núi non, sống cùng thiên nhiên, di dưỡng tinh thần. Ở thế kỉ XVI, Nguyễn Dữ chính là hình mẫu tiêu biểu cho loại hình nhà nho ẩn dật.
Sau khi đậu Hương tiến (tức Cử nhân), ông làm 16 download by : skknchat@gmail.com quan với nhà Mạc, rồi về với nhà Lê làm Tri huyện Thanh Tuyền (nay là Bình Xuyên, Vĩnh Phú); nhưng mới được một năm, vì bất mãn với thời cuộc, lấy cớ nuôi mẹ, xin về ở núi rừng Thanh Hóa. Từ đó trải mấy năm dư, chân không bước đến thị thành rồi mất tại Thanh Hóa. Sang thế kỉ XVIII, có các tác giả: Nguyễn Huy Vinh (1770-1818), Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720- 1791); La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (1723-1804)… Khác với các nhà nho hành đạo, các nhà nho ẩn dật không đề cao khát vọng lập công danh. Với họ tránh xa chốn quan trường, coi thường danh lợi là một cách thể hiện thái độ với thời thế.
Nguyễn Huy Vinh sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học, văn học, đỗ đạt kể cả bên nội lẫn bên ngoại (cha ông là chí sĩ Nguyễn Huy Tự). Ông thừa hưởng được những tố chất văn chương của hai dòng họ nổi tiếng, nhưng hoàn cảnh lịch sử không tạo điều kiện cho ông tiến thân trên con đường khoa bảng. Nguyễn Huy Vinh chưa một lần tham gia chốn quan trường. Năm Kỷ Tỵ (1809) ông chuyển lên vùng núi Chung Sơn (Nam Đàn, Nghệ An) để dựng nhà dạy học, sống cuộc đời thanh cao của một nhà giáo mẫu mực, nhiệt thành.
Nguyễn Thiếp dù có tài năng văn chương và quân sự hơn người, được vua Quang Trung nhiều lần cho mời ra làm quan nhưng ông đều từ chối. Đến năm 1971, nhà vua lập điện Sùng Chính, mời ông ra làm viện trưởng, ông mới nhận lời. Lê Hữu Trác thì tự nhận mình là Hải Thượng Lãn Ông (Ông già lười trên bến Thượng Hồng) với ngụ ý coi thường danh lợi, suốt đời chuyên tâm với nghề y, bốc thuốc, chữa bệnh cho dân. Bên cạnh các nhà nho ẩn dật, thời kì này cũng xuất hiện nhiều nhà nho tài tử.
Nhà nho tài tử vẫn là nhà nho kể từ nguồn gốc xuất thân, học vấn và nhân sinh quan, thế giới quan. Tuy nhiên họ là những người luôn có ý thức về tài năng cá nhân và không chịu ép mình trong khuôn khổ chật hẹp của lễ giáo phong kiến. Chính điều kiện kinh tế, lịch sử của xã hội Việt Nam giai đoạn này đã là tiền để loại hình nhà nho tài tử xuất hiện và phát triển mạnh mẽ. “Tư tưởng thị dân đòi hưởng lạc, đòi hỏi hạnh phúc, chống lại thói an bần lạc đạo xuất hiện, và trở thành xu thế chính.
Các tài tử ra đời để thay thế các quân tử, các trượng phu, là những người độc chiếm văn đàn trước đây” [41, tr. Sau khi bàn sâu 17 download by : skknchat@gmail.com về kiểu nhà nho này, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu đúc kết: “Nhà nho tài tử khác với nhà nho chính thống là người cẩn trọng tu thân, giữ lễ, an bần lạc đạo… Nhà nho tài tử đề cao tài và tình - chứ không phải đức và tính - sống thị tài và đa tình, say mê nghệ thuật, cuộc sống phóng khoáng, mong ước lập sự nghiệp hơn đời và cuộc gặp gỡ đẹp đẽ trai tài gái sắc.