CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA TỔ CHỨC KINH TẾ 1. Khái niệm về quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế 1. Khái niệm về tổ chức kinh tế Dưới góc độ xã hội, tổ chức là một tập thể gồm nhiều người hợp lại với nhau để thực hiện một mục tiêu chung nào đó. Tổ chức có thể được phân thành nhiều loại hình khác nhau, nếu căn cứ theo sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền và cơ cấu nhân sự điều hành có thể phân loại thành tổ chức chính thức và tổ chức phi chính thức; nếu căn cứ theo trách nhiệm pháp lý thì có thể phân thành tổ chức có tư cách pháp nhân và tổ chức không tư cách pháp nhân; nếu căn cứ vào tính quyền lực Nhà nước, có thể được phân thành cơ quan Nhà nước, tổ chức tôn giáo, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội.; nếu căn cứ vào mục tiêu lợi nhuận thì có thể phân thành tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội.
Ở Việt Nam hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, TCKT là chủ thể kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất. Thuật ngữ “tổ chức kinh tế” được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội và trong các văn bản pháp luật về kinh tế. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn khái niệm tổ chức kinh tế thường có một số điểm khác biệt. Theo Từ điển Luật học: TCKT của Nhà nước được hiểu là tổ chức sản xuất, kinh doanh hoặc phục vụ nền kinh tế quốc dân, phục vụ đời sống xã hội, do Nhà nước thành lập và quản lý nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
TCKT của Nhà nước là DN và các chủ thể kinh tế khác của Nhà nước hoạt động trên các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Bước vào nền kinh tế thị trường, tổ chức kinh tế do nhiều thành phần kinh tế thành lập nên nội hàm của khái niệm tổ chức kinh tế, bao gồm: TCKT Nhà nước và TCKT phi Nhà nước (tổ chức kinh tế tư nhân, tổ chức kinh tế tập thể, tổ chức kinh tế hỗn hợp và tổ chức kinh tế nước ngoài v. Khái niệm tổ TCKT bắt đầu được nhiều tác giả tiếp cận với sự đồng nhất chung và không có sự phân biệt giữa các chủ thể. 9 Hiện nay, khái niệm TCKT còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng, chưa thống nhất giữa các văn bản pháp luật về đất đai với các văn bản pháp luật khác có liên quan, điều đó ảnh hưởng đến tính thống nhất trong các quy định pháp luật, ảnh hưởng đến thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật.
Tuy không có định nghĩa cụ thể về TCKT, nhưng thuật ngữ “tổ chức kinh tế” đã được nhắc đến trong một số các quy định của pháp luật về thương mại, doanh nghiệp, đất đai, hợp tác xã và đầu tư. Theo khoản 2 Điều 75 BLDS năm 2015 lại quy định “pháp nhân thương mại bao gồm Doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác” mà theo quy định pháp luật DN thì DNTN là một loại hình DN, hoạt động kinh doanh theo quy định pháp luật, khái niệm về pháp nhân thương mại như vậy cũng chưa chặt chẽ và mâu thuẫn với chính quy định về pháp nhân Khoản 1 Điều 74 BLDS năm 2015. Nhưng LĐĐ cũng chưa đưa ra khái niệm về TCKT mà chỉ liệt kê tổ chức nào là TCKT và thu hẹp lại rằng: “TCKT bao gồm DN, hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác theo quy định pháp luật dân sự, trừ DN có vốn ĐTNN”1 Luật Đầu tư năm 2020 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 là văn bản quy định đầy đủ hơn cả về giải thích từ ngữ: “Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”2. Do vậy, khái niệm TCKT gồm cả TCKT trong nước và TCKT nước ngoài.
Nghiên cứu các quy định khác của Luật Đầu tư năm 2020 thì TCKT có vốn ĐTNN là TCKT có nhà ĐTNN là thành viên hoặc cổ đông 3. Nhà ĐTNN là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam4, 1 Khoản 27 Điều 3 LĐĐ năm 2013 2. Khoản 19 Điều 3, LĐT năm 2020 10 Khái niệm TCKT cũng không được quy định rõ trong Luật Doanh nghiệp 2020 mà chỉ đưa ra khái niệm về “doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” 5. Khái niệm TCKT cũng không được quy định rõ trong Luật hợp tác xã năm 2012 mà chỉ đưa ra khái niệm về “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”6.
và “Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý liên hiệp hợp tác xã” 7. Như vậy, theo các quy định pháp luật trên có thể hiểu TCKT là tổ chức được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, bao gồm: doanh nghiệp (“không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”), hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức kinh tế khác theo quy định pháp luật dân sự. Phân loại tổ chức kinh tế trong sử dụng đất Như phân tích ở trên, LĐĐ hiện nay vẫn chưa đưa ra một khái niệm về TCKT mà chỉ liệt kê TCKT gồm: doanh nghiệp (“không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”), hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức kinh tế khác theo quy định pháp luật dân sự, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khái niệm doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp, khái niệm hợp tác xã được 5.
Khoản 10 Điều 4, LDN năm 2020. Khoản 1 Điều 3, LHTX năm 2012. Khoản 2 Điều 3, LHTX năm 2012. 11 quy định trong Luật Hợp tác xã, trong khi BLDS năm 2015 quy định doanh nghiệp và TCKT khác là pháp nhân thương mại.
Do đó, Có nhiều tiêu chí phân loại TCKT trong sử dụng đất. Trường hợp căn cứ vào cấu trúc vốn theo quy định của LDN năm 2020 thì TCKT SDĐ được phân thành: Một là, DN Nhà nước SDĐ. Đó là DN do Nhà nước do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ trong lĩnh vực SX - KD - DV. DNNN SDĐ, bao gồm CTTNHH Nhà nước hai thành viên trở lên; CTTNHH Nhà nước một thành viên; DN 100% vốn Nhà nước.
Hai là, DN thuộc các thành phần kinh tế khác SDĐ. Đó là CTCP, CTTNHH, Cty hợp danh và DNTN được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận QSDĐ sử dụng vào mục đích SX – KD – DV. Ba là, DN có vốn ĐTNN SDĐ bao gồm DN 100% vốn ĐTNN, DN liên doanh. “DN Việt Nam mà nhà ĐTNN mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư” được Nhà nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam”.
Bốn là, các TCKT tập thể SDĐ, bao gồm các HTX, liên hiệp HTX được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ trong hoạt động SX – KD – DV. Căn cứ vào ngành nghề kinh doanh BĐS, có thể phân thành TCKT KDBĐS và TCKT không KDBĐS. Chuyển nhượng Quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế. a) Khái niệm về chuyển quyền sử dụng đất Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân dư.
Do đó, để được tiếp cận và sử dụng đất đai một cách hiệu quả, thì các quyền liên quan đất đai phải được quy định cụ thể. Khác với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước là đại diện của chủ sở Quyền sở 12 hữu này bao gồm: quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt ng đó, quyền sử dụng đất (QSDĐ) – quyền tự thân của chủ sở hữu 8., quyền này - sử dụng một cách giao tiếp bằng cách trao cho người sử dụng đất với hình chuyển giao hoặc công nhận. Thông qua hoạt động điều phối đất đai (quy hoạch, kế hoạch sử dụng để đất cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đăng ký đất đai, cấp GCN QSDĐ, .) của Nhà nước, Nhà nước đại diện chủ sở hữu đất đai nhưng không sử dụng trực tiếp mà chuyển giao quyền này cho chủ thể sử dụng đất. Đây là cách thực hiện gián tiếp việc khai thác các lợi ích từ đất đai.
Vì lẽ đó, việc chuyển giao này chỉ là chuyển QSDĐ cho CTSDĐ, Nhà nước vẫn là chủ sở hữu với đất đai. Nhìn chung, khái niệm QSDĐ được cho là gần giống với khái niệm quyền sở hữu đất đai. Thế nhưng, giữa QSDĐ và quyền sở hữu đất đai có sự khác biệt, chẳng hạn như: QSDĐ của CTSDĐ được sinh ra từ quyền sở hữu đất đai. Nhà nước là chủ sở hữu đất đai, và thông qua việc trao quyền cho CTSDĐ là cách thức thực hiện quyền sở hữu gián tiếp của mình.
Pháp luật chỉ quy định quyền sở hữu đất đai là nhà nước, thế nên không có bất kỳ chủ thể nào được sở hữu đất đai. Tại đây, theo quy định của pháp luật thì QSDĐ là một quyền tài sản được pháp luật công nhận (Điều 115 BLDS 2015). Nhà nước trao QSDĐ cho CTSDĐ để từ đó họ có thể thực hiện các giao dịch QSDĐ như: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế chấp, góp vốn bằng QSDĐ. Ngoài ra, QSDĐ của CTSDĐ vẫn còn hơn so với quyền sở hữu đất đai của Nhà nước.