Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lí luận của đề tài Trong lịch sử Việt Nam từ 1980 trở về trước các Nhà nước đã nhận nhiều hình thức sở hữu đất đai trong đó có sở hữu của nhà nước và sở hữu tư nhân (trong nhà nước phong kiến thì sở hữu của nhà nước về đất đai còn gọi là sở hữu của nhà Vua hay đất của Vua). Đối với đất đai thuộc sở hữu Nhà nước trong nhiều trường hợp nhà nước trao quyền sử dụng đất đó cho các tổ chức và cá nhân sử dụng với những điều kiệu nhất định.
Như vậy, vấn đề đất đai thuộc sở hữu nhà nước và quyền sử dụng đất của Nhà nước được trao cho cá nhân, tổ chức đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử. Dưới góc độ là một khái niệm pháp lý, quyền sử dụng đất được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Thứ nhất: Quyền sử dụng đất là một chế định pháp luật đất đai với ý nghĩa này thì quyền sử dụng đất bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm thực hiện việc quản lý, sử dụng đất đai, cụ thể, đó là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh về các vấn đề quyền của nhà nước đối với đất đai, quản lý nhà nước về đất đai; chế độ sử dụng các loại đất; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; các thủ tục hành chính về quản lý và sử dụng đất đai… Thứ hai, quyền sử dụng đất là một quan hệ pháp luật về đất đai; Quan hệ pháp luật này được thể hiện trên ba phương diện sau: - Quan hệ giữa đại diện chủ sở hữu (nhà nước) với người sử dụng đất được thể hiện trong mối quan hệ giữa các quyền: Chiếm hữu, sử dụng và định đoạt quyền sử dụng đất. Quyền của chủ sở hữu đối với đất đai là quyền mang tính tuyệt đối còn quyền sử dụng đất của người sử dụng đất chỉ là quyền phát Luan van 6 sinh chịu sự lệ thuộc vào quyền sở hữu toàn dân về đất đai; - Quan hệ giữa những người sử dụng đất với nhau: Quan hệ này được thực hiện thông qua các giao dịch mang tính dân sự như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế quyền sử dụng đất…; - Quan hệ giữa người sử dụng đất với các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường và UBND các cấp trong việc: Giao dịch, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất… Dưới góc độ là một chế định pháp luật đất đai và một quan hệ pháp luật đất đai như được phân tích ở trên thì QSDĐ chính là một phương thức thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai bởi chủ sở hữu đất đai mà đại diện là nhà nước không cần thiết và cũng không đủ điều kiện để trực tiếp thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng đất đai của mình mà việc thực hiện các quyền đó của chủ sở hữu được thực hiện chủ yếu một cách gián tiếp thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất để các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình phải thực hiện trong quá trình sử dụng đất, xây dựng xét duyệt quy hoạch kế hoạch sử dụng đất; trao QSDĐ cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thông qua các hình thức: giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ. Thông qua việc sử dụng đất của người sử dụng đất các ý tưởng, chủ trương, chính sách về sử dụng đất của nhà nước đã được “thực hiện hóa”.
Thứ ba, QSDĐ là một quyền năng chủ quan của chủ sở hữu và người sử dụng đất. Theo nghĩa này, QSDĐ là cách xử sự của người sử dụng đất trong việc thực hiện các quyền mà nhà nước trao cho họ. Những quyền chủ quan này xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật khách quan đã nói ở trên và do các quy phạm đó quyết định. Người sử dụng đất chỉ được thực hiện các quyền trong phạm vi mà pháp luật cho phép.
Cụ thể, QSDĐ theo nghĩa chủ quan là tổng thể các quyền mà Nhà nước Luan van 7 trao cho người sử dụng đất để họ khai thác các thuộc tính có lợi của đất phục vụ cho mục tiêu nhất định của mình (ví dụ xây nhà, trồng lúa, hoa màu, nuôi cá…). QSDĐ theo quy định của Luật Đất Đai là một khái niệm bao trùm để chỉ các quyền sau đây của người sử dụng đất: Chuyển đổi; Chuyển nhượng; Cho thuê; Cho thuê lại; Thế chấp; Bảo lãnh; Góp vốn; Thừa kế; Tặng cho. Chủ sở hữu và người sử dụng đất đều có quyền này nhưng quyền của chủ sở hữu mang tính tuyệt đối còn quyền của người sử dụng đất mang tính phát sinh từ quyền của chủ sở hữu biểu hiện thông qua việc người sử dụng đất phải chịu sự điều chỉnh, giám sát của pháp luật và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc sử dụng đất. - Thứ tư, QSDĐ là một tài sản và là một tài sản đặc biệt, chính vì thế QSDĐ vừa là đối tượng trong quan hệ pháp luật đất đai vừa là đối tượng của quan hệ pháp luật dân sự (trong đó có quan hệ pháp luật thừa kế).
Trong giai đoạn 1980-1992, do không được thừa nhận là tài sản vì thế QSDĐ không được coi là đối tượng chuyển dịch trong quan hệ pháp luật thừa kế nói riêng và trong giao lưu dân sự nói chung. Ngày nay, pháp luật quy định QSDĐ là tài sản vì thế QSDĐ được tham gia vào các giao lưu dân sự, kinh tế (trong đó có quan hệ thừa kế). Chính vì vậy thế mạnh tiềm năng của đất đai được khai thác để phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và của cá nhân nói riêng. Tóm lại: QSDĐ là một bộ phận cấu thành quan trọng của pháp luật đất đai, có mối quan hệ khăng khít và phụ thuộc vào quyền sở hữu toàn dân về đất đai, là phương thức để nhà nước thực hiện sở hữu toàn dân về đất đai là cách thức để người sử dụng đất khai thác các thuộc tính có lợi của đất để phục vụ cho các nhu cầu của mình.
Nếu quyền sở hữu toàn dân về đất đai là quyền độc lập và đầy đủ thì quyền sử dụng đất là quyền phụ thuộc và không đầy đủ. Di sản chính là tài sản của người chết để lại, QSDĐ cũng được coi là tài Luan van 8 sản, nhưng là một loại tài sản đặc biệt, điều đó xuất phát từ tính chất đặc biệt của đất đai, vì vậy, khi một người chết mà có QSDĐ để lại, sau khi thanh toán xong các nghĩa vụ, thì QSDĐ đó được coi là di sản và khi đó làm xuất hiện quan hệ pháp luật thừa kế QSDĐ. Vì thế, thừa kế QSDĐ chính là sự chuyển dịch QSDĐ của người chết sang cho người còn sống tại thời điểm mở thừa kế theo trình tự trong di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật. Thừa kế quyền sử dụng đất là một chế định mới, lần đầu tiên xuất hiện cùng với việc ban hành luật đất đai 1993 đây cũng chính là đặc thù của pháp luật Việt Nam bởi vì nếu so sánh với pháp luật của phần lớn các nước trên thế giới, chúng ta cũng sẽ không tìm thấy khái niệm thừa kế QSDĐ.
Quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự do pháp luật quy định hoặc có thể do người để lại di sản xác lập hoặc do sự thỏa thuận của những người thừa kế. Tuy nhiên, trong trường hợp quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự do người để lại di sản xác lập hoặc do những người nhận thừa kế thỏa thuận thì sự xác lập và thỏa thuận đó không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Chế định thừa kế QSDĐ vừa tuân theo các quy định về thừa kế tài sản nói chung lại vừa mang nét đặc thù riêng, bởi đất đai là một tài sản đặc biệt, tài sản này không thuộc sở hữu của người để lại thừa kế mà thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Nhà nước chỉ trao cho cá nhân, tổ chức QSDĐ và vì thế chỉ đặt ra vấn đề thừa kế đối với QSDĐ mà không là thừa kế đất đai.
Quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ, đối với các tài sản thuộc sở hữu của mình, cá nhân có toàn quyền quyết định vì vậy, thừa kế theo di chúc bao giờ cũng được ưu tiên trước vì nó thể hiện ý chí của người để lại di sản và pháp luật tôn trọng sự định đoạt đó. Tuy nhiên chỉ trong trường hợp không có di chúc hoặc các trường hợp khác như được quy định tại điều 675 BLDS thì pháp luật mới có sự can thiệp bằng các quy định về thừa Luan van 9 kế theo pháp luật. Cơ sở pháp lí của đề tài 1. Các văn bản của Nhà nước áp dụng theo Luật Đất đai năm 2003 (có hiệu lực thi hành đến trước ngày 01/7/2004) - Luật Đất đai năm 2003, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2003.
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai. - Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. - Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. - Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất.
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 05 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ, thu hồi đất, thực hiện QSDĐ, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. - Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. - Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế "một cửa" tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. - Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13 tháng 4 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (gọi tắt là Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT).