Chương I. Những van đề lý luận về góp vốn bằng QSDĐ và pháp luật về góp von bằng QSDĐ; - Chương II. Thực trạng pháp luật về góp vốn bằng QSDĐ; - Chương III. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn bang QSDD.
NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE GOP VON BANG QSDĐ VA PHAP LUAT VE GOP VON BANG QSDD 1. Những van dé lý luận về vốn và góp vốn trong kinh doanh 1. Khái niệm và đặc trưng của von Vốn là một thuật ngữ thuộc lĩnh vực kinh tế, và trong kinh tế học, Các Mác đã khái quát hóa phạm trù vốn qua phạm trù tư bản: “Ti bản là giá trị mang lại giá tri thang du.” Vốn hay tư bản trong kinh tế học là khái niệm dé chỉ những vật thé có giá trị, có khả năng đo lường được sự giàu có của người sở hữu chúng. Vốn- tư bản ở dạng hàng hóa có được nhờ mua băng tiền hoặc tư bản vốn.
Trong lĩnh vực tài chính và kế toán, khi dé cập đến tư bản là nói đến nguồn lực tài chính, đặc biệt là dé bat đầu hoặc duy trì một công việc kinh doanh. Vốn là điều kiện cân thiệt, cơ bản với môi khâu của quá trình sản xuât. Định nghĩa vôn được hiểu là lượng tiền vốn nhất định cần thiết ban đầu nhằm đảm bảo cho các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh (mua sắm nguyên vật liệu, trang bị tài sản cô định, trả tiền công cho người lao động.) Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Trong nền kinh tế thi trường, von kinh doanh còn được coi là một quỹ tiền tệ đặc biệt không thể thiếu của doanh nghiệp.6] Để trở thành vốn, thì tiền vốn phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau: - Một là, tiền đại diện cho một lượng hàng hóa nhất định hay nói cách khác tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực; - Hai là, tiền phải được tích tụ và tập trung một lượng nhất định, đủ để tiến hành kinh doanh; - Ba là, tiền phải được vận động bằng mục đích sinh lời.
Điêu kiện một và hai được coi là điêu kiện ràng buộc đê trở thành vôn, và điêu kiện ba là đặc trưng cơ bản nhât của vôn. Nêu đông tiên không quay vòng, vận lãi động dé tạo ra lợi nhuận mà chỉ năm một cho, thi đó chỉ là đông tiên “chê?” mà thôi, bởi theo Mác “tién không tự đẻ ra tiên”. Von của doanh nghiệp mang các đặc trưng sau: - Vôn đại diện cho một lượng giá trị tài sản: Điêu đó có nghĩa là vôn được biểu hiện bằng những giá trị tài sản như nhà xưởng, đất đai, máy móc thiết bị. - Vốn được vận động sinh lời: Dé tiền biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được vận động sinh lời.
Trong quá trình vận động, đồng tiền có thé thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm kết thúc của vòng tuần hoàn phải là giá tri - là tiền; đồng tiền phải quay về điểm xuất phát với giá trị lớn hơn (T-T’), (T>T’) Trường hợp tiền có vận động nhưng bị thất tán, quay về vạch xuất phát nhưng với giá trị nhỏ hơn ban đầu (T’<T) thì đồng vốn không được đảm bảo. Chu kỳ vận động tiếp theo của nó bị ảnh hưởng. - Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thê phát huy được tác dụng. Do đó các doanh nghiệp phải tìm cách thu hút nguồn vốn như gop von, hun vốn, phát hành cổ phiếu.
- Vốn có giá trị về mặt thời gian: Điều này cũng có nghĩa là phải xem xét yếu tố thời gian của đồng vốn bởi vì đồng tiền có giá trị về mặt thời gian, ở những thời điểm khác nhau, giá trị của nó cũng khác đi, phụ thuộc vào các quy luật thị trường, vào chính sách của nhà nước. - Vốn phải gắn với chủ sở hữu: Mỗi một đồng vốn phải được gắn liền với một chủ sở hữu nhất định. Trong nên kinh tế thị trường không thé có những đồng vốn vô chủ. Cũng cần phân biệt quyền sử dụng và quyền sở hữu vốn.
Tùy theo hình thức đầu tư mà người sở hữu vốn có thê đồng nhất với người sử dụng vốn hoặc người sở hữu vôn được tách khỏi người sử dụng vôn. - Vốn phải được quan niệm là hàng hóa đặc biệt. Những người dư thừa vốn có thé đầu tư vốn vào thị trường. Những người can vốn tới thị trường vay nghĩa là được sử dụng vốn của người chủ nợ.
Quyền sở hữu vốn không di chuyên nhưng quyền sử dụng vốn được chuyển nhượng qua sự vay nợ. Người vay được quyền sử dụng trong 12 một thời gian nhất định, đồng thời phải trả một khoản chi phí cho người chủ sở hữu là lãi vay. - Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà còn được biểu hiện bằng những tài sản vô hình như bản quyền phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ, thương hiệu. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự tiến bộ của khoa hoc công nghệ, những tài sản vô hình ngày càng giữ vai trò quan trọng, tạo khả năng sinh lời cho doanh nghiệp.
Khái niệm và đặc trưng của góp vẫn trong kinh doanh Dé thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần phải tích tụ được một lượng vốn nhất định, và một hình thức đề tập trung vốn đó chính là góp vốn. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì, “Góp von là việc dua tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của cong ty.” Dựa vào định nghĩa trên, có thé rút ra ba đặc trưng co ban cua góp von, đó là: Thứ nhất, góp vốn luôn gắn liền với tài sản. Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 cũng quy định rõ những tài sản được đem góp vốn tại Khoản 4 Điều 4, bao gồm: “Tién Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị QSDĐ, giá trị quyên sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong diéu lệ công ty do thành viên góp vốn để tạo thành vốn của công ty.” Như vậy, những tài sản đem góp vốn không chỉ là những tài sản hữu hình, mà còn cả những tài sản vô hình, điêu này hoàn toàn phù hợp với những biêu hiện đặc trưng của vôn. Thứ hai, góp vốn sẽ đưa tài sản của người góp vốn thành tài sản của công ty.
Những tài sản của người góp vốn sẽ được gộp chung cùng tài sản của những người góp vốn khác dé đạt được một mức vốn nhất định đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh. Số vốn chung này được pháp luật ghi nhận, trở thành tài sản của công ty, được dùng dé vận động, quay vòng sản xuất nhăm mục đích sinh lời, và phan lợi nhuận thu về lại được chia cho những người góp vốn theo tỷ lệ mà họ đã góp hoặc theo thỏa thuận. 13 Thứ ba, thông qua góp vốn, người góp vốn sẽ trở thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu chung của công ty. Yếu tố tài chính luôn là yếu t6 sống còn của một doanh nghiệp.
Người góp vốn là chủ sở hữu đối với vốn góp của mình, và lẽ đương nhiên họ sẽ (hoặc cùng với những người góp vốn khác) là chủ sở hữu đối với doanh nghiệp mà họ góp vốn vào. Tùy vào mức vốn góp cũng như loại hình doanh nghiệp, pháp luật quy định phân loại thành viên công ty với những quyên và nghĩa vụ khác nhau. Đặc trưng pháp lý của QSDD 1. Quan niệm về QSDĐ Hiện nay trên thế giới tồn tại những quan niệm khác nhau về QSDĐ, phù hợp với chế độ sở hữu đất đai của từng nước.
Ở một số quốc gia như ở Úc (sở hữu nhà nước về đất đai chiếm khoảng 30%), Singapore (sở hữu nhà nước về đất đai chiếm 90% diện tích đất cả nước), Mỹ (từ cuối thế kỷ XIX, Chính quyên Liên bang chỉ quản lý khoảng 20% diện tích đất cả nước). họ thừa nhận chế độ đa sở hữu về đất đai (gồm cả sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân) thì người chủ SDĐ không chỉ có quyền hưởng những lợi ích trực tiếp do đất đai mang lại mà đất của chủ sở hữu còn được tự do mua bán, chuyên nhượng. Nhà nước không thé thu hồi đất của chủ sở hữu nếu không phải dé phuc vu vao muc dich chung của quốc gia.21] Công nhận sở hữu đất đai thuộc nhiều thành phần kinh tế sẽ tạo được động lực cho đầu tư, giảm tham nhũng trong quản lý đất đai, tăng hiệu quả sử dụng đất và tạo điều kiện tốt cho hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, cái khó của chế độ này đó là sự lũng đoạn độc quyền nguồn tài nguyên đất quý giá khi không có sự can thiệp của Nhà nước và vấn đề địa tô tuyệt đối `”.
Nước ta đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp năm 1980, 1992 và 2013 đều ghi nhận quyên sở hữu toàn dân về dat đai. Điều 53 Hiến pháp năm 2013 khang định: “Đất dai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đâu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại điện chủ sở hữu và thong nhất quan ly’. Đồng thời bỗ sung thêm tại Khoản 2 Điều 54: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ. NSDĐ được chuyển 14 OSDĐ, thực hiện các quyên và nghĩa vụ theo quy định của luật.
QSDĐ được pháp luật bảo hộ”, qua đó thé hiện thái độ tôn trong của Nhà nước với QSDD của người dân, cũng như tạo nền tảng pháp lý vững chắc đảm bảo cho người dân được SDD ổn định, lâu đài. Việt Nam tiếp cận đến sở hữu toàn dân về đất đai thông qua việc chỉ công nhận hình thức sở hữu toàn dân và giao một số quyền năng sở hữu cho người sử dụng. Các nước khác công nhận nhiều hình thức sở hữu nhưng hạn chế lại để chuyên một số quyền năng sở hữu cho Nhà nước. Trong báo cáo “Những chiến lược cải cách các quan hệ đất dai” của tô chức FAO (1994) đã nhận định: “Hệ thong đất dai ở Việt Nam trên danh nghĩa là của Nhà nước nhưng thực tế là sở hữu tư nhân, có thể coi đó là mô hình tốt mà các nước dang chuyển đổi sang kinh tế thị trường nên học tập và làm theo.