Giải pháp xây dựng nông thôn mới tại huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng (Luận văn)

Luận văn phân tích thực trạng, đề xuất các giải pháp xây dựng nông thôn mới tại huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, định hướng phát triển đến năm 2025.

Chuyên ngành

Phát triển nông thôn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

123
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng phát triển nông thôn mới Bảo Lạc hiện nay

Huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng đang trong quá trình triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới với những kết quả ban đầu khả quan. Tuy nhiên, thực trạng phát triển vẫn còn nhiều thách thức cần khắc phục. Từ giai đoạn 2020-2022, địa bàn huyện đã từng bước cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng nông thôn. Bộ máy tổ chức xây dựng nông thôn mới được thành lập với sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các sở ban ngành và cơ sở cơ sở xã. Tiến độ thực hiện các tiêu chí nông thôn mới đã đạt được một số mục tiêu, nhất là trong lĩnh vực giao thông, điện lực và nước sạch. Tuy vậy, vẫn còn tồn tại những hạn chế về nguồn lực tài chính, huy động nhân lực và quản lý đất đai hiệu quả.

1.1. Bộ máy tổ chức và quản lý

Bộ máy tổ chức xây dựng nông thôn mới tại huyện Bảo Lạc được xây dựng theo quy định của Trung ương, với Ban Chỉ đạo được thành lập tại các cấp huyện, xã. Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới huyện Bảo Lạc đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối, theo dõi và đánh giá tiến độ thực hiện. Hệ thống này đảm bảo sự liên kết và phối hợp giữa các cấp chính quyền, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nông thôn mới bền vững.

1.2. Tiến độ thực hiện các tiêu chí

Trong giai đoạn 2020-2022, huyện Bảo Lạc đã đạt được những kết quả đáng kể trong xây dựng nông thôn mới. Các xã từng bước hoàn thiện hệ thống đường giao thông, cải tạo môi trường, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng công cộng. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch, điện lực tăng đáng kể. Tuy nhiên, tiến độ còn chậm ở các lĩnh vực như phát triển kinh tế, cải thiện mức sống và nâng cao tỷ lệ hộ gia đình có thu nhập ổn định.

II. Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển

Huyện Bảo Lạc sở hữu nhiều thuận lợi về tài nguyên để phát triển nông thôn mới. Địa bàn có điều kiện tự nhiên đa dạng với rừng, đất nông nghiệp và nguồn nước phong phú, tạo cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững. Sự hỗ trợ của chính quyền Trung ương và địa phương thông qua các chương trình tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật cũng là điểm mạnh. Tuy nhiên, những khó khăn vẫn thường trực: nguồn vốn đầu tư hạn chế, nhân lực lao động chất lượng cao thiếu, cơ sở hạ tầng còn yếu kém ở vùng sâu, xa. Đặc biệt, tỷ lệ dân số thiểu số và mức thu nhập thấp làm chậm tiến độ xây dựng nông thôn mới toàn diện.

2.1. Những thuận lợi

Huyện Bảo Lạc có tài nguyên thiên nhiên dồi dào với hơn 60% diện tích là rừng, địa hình đa dạng phù hợp cho nông lâm kết hợp. Vị trí địa lý thuận lợi với kết nối với các tỉnh lân cận. Chính sách ưu tiên từ nhà nước cho phát triển vùng cao, biên giới là lợi thế để huy động nguồn lực tài chính cho phát triển nông thôn mới. Nhân dân địa phương có truyền thống đoàn kết, sẵn sàng tham gia vào các chương trình xây dựng cộng đồng.

2.2. Những khó khăn

Khó khăn lớn nhất là thiếu hụt nguồn lực tài chính cho đầu tư cơ sở hạ tầng. Mức thu nhập bình quân của hộ gia đình còn thấp, năng lực huy động vốn từ cộng đồng hạn chế. Cơ sở hạ tầng ở nhiều xã còn chậm phát triển, đặc biệt ở vùng sâu. Tỷ lệ thất nghiệp cao, lực lượng lao động trẻ di cư ngoài. Kỹ năng ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp và kinh doanh còn yếu, cần nâng cao năng lực nhân lực.

III. Giải pháp xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2023 2025

Để đạt được mục tiêu xây dựng nông thôn mới toàn diện, huyện Bảo Lạc cần tập trung vào ba nhóm giải pháp chính. Thứ nhất là tăng cường huy động nguồn lực tài chính từ nhiều kênh: ngân sách nhà nước, tín dụng chính sách, vốn xã hội hóa. Thứ hai, nâng cao chất lượng nhân lực thông qua đào tạo, chuyển giao công nghệ, phát triển kỹ năng cho người dân. Thứ ba, hoàn thiện cơ sở hạ tầng theo tiêu chí nông thôn mới, ưu tiên các xã chậm phát triển. Các giải pháp này cần được triển khai có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, sự tham gia tích cực của cộng đồng và đặc biệt là nâng cao ý thức của hộ gia đình trong xây dựng nông thôn mới.

3.1. Giải pháp huy động nguồn lực

Huy động nguồn lực tài chính là mấu chốt để thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới. Cần tăng cường kêu gọi vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, mở rộng chương trình tín dụng chính sách với lãi suất thấp. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào phát triển nông thôn thông qua cơ chế ưu đãi thuế, đất đai. Huy động nguồn nhân lực từ các chuyên gia, sinh viên tình nguyện tham gia phát triển địa phương. Tăng cường quản lý hiệu quả huy động sử dụng đất đai để phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng.

3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực

Nâng cao năng lực nhân lực là điều kiện tiên quyết cho phát triển nông thôn mới bền vững. Tổ chức các lớp đào tạo về kỹ năng kinh doanh, canh tác hiệu quả, ứng dụng công nghệ thông tin. Đưa những kinh nghiệm thành công từ các địa phương khác về xây dựng nông thôn mới để cộng đồng học hỏi. Hỗ trợ phát triển nghề nghiệp mới, giúp tăng mức thu nhập hộ gia đình. Khuyến khích thanh niên về làm việc tại địa phương thông qua các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp.

IV. Các biện pháp thực hiện và kỳ vọng

Để giải pháp xây dựng nông thôn mới được triển khai hiệu quả, cần thiết lập cơ chế quản lý, điều phối chặt chẽ. Bộ máy tổ chức xây dựng nông thôn mới phải được tăng cường về nhân sự, chuyên môn. Cần lập kế hoạch chi tiết với các mục tiêu cụ thể, có thể đo lường được cho từng xã, từng tiêu chí. Chương trình phát triển nông thôn mới cần được truyền thông rộng rãi để nâng cao nhận thức của nhân dân. Thiết lập hệ thống theo dõi, đánh giá định kỳ để kịp thời điều chỉnh, cải thiện. Với những biện pháp này, huyện Bảo Lạc kỳ vọng sẽ đạt được mục tiêu xây dựng nông thôn mới cơ bản vào năm 2025, nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng nông thôn.

4.1. Cơ chế quản lý và điều phối

Cơ chế quản lý hiệu quả là nền tảng để thực hiện giải pháp xây dựng nông thôn mới. Cần tăng cường vai trò của Ban Chỉ đạo, Văn phòng Điều phối tại các cấp với đủ nhân sự, trang thiết bị. Xây dựng quy trình rõ ràng từ lập kế hoạch, phê duyệt, triển khai đến giám sát, đánh giá. Phối hợp chặt chẽ giữa các sở ban ngành, chính quyền địa phương trong huy động, sử dụng nguồn lực. Thiết lập hệ thống báo cáo định kỳ, minh bạch trong công khai thông tin, kết quả thực hiện chương trình phát triển nông thôn mới.

4.2. Kỳ vọng và triển vọng phát triển

Với sự nỗ lực triển khai các giải pháp xây dựng nông thôn mới toàn diện, huyện Bảo Lạc kỳ vọng sẽ cơ bản hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới vào năm 2025. Mục tiêu phát triển là nâng cao mức thu nhập hộ gia đình, cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế. Tỷ lệ hộ gia đình có thu nhập ổn định dự kiến tăng lên 70% trở lên. Cơ sở hạ tầng được hoàn thiện, đặc biệt là đường giao thông, điện, nước sạch phổ cập toàn huyện. Triển vọng là huyện Bảo Lạc trở thành điểm sáng trong xây dựng nông thôn mới ở khu vực miền núi.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới 1. Những thông tin cơ bản về nông thôn và nông thôn mới 1. Khái niệm nông thôn Hiện nay, mỗi quốc gia khác nhau có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “nông thôn”.

Theo tác giải Bùi Quang Dũng và cộng sự (2015), nhiều cá nhân tiếp cận vấn đề liên quan đến khái niệm này đã sử dụng những tiêu chí về mặt dân cư hoặc mức độ phát triển của kết cấu hạ tầng, trình độ phát triển và sản xuất hàng hóa, các hoạt động sinh sống và sản xuất để có thể phân biệt giữa “nông thôn” và “thành thị”. Trong một nghiên cứu về hành chính quốc gia vào năm 2019, Đinh Xuân Hùng đã cho rằng nông thôn là khái niệm được sử dụng nhiều nhưng lại có nội dung bao hàm rất lớn. Sau khi cân nhắc nhiều khía cạnh, tác giả cho rằng một khu vực nông thôn là một phần lãnh thổ không thuộc nội thành của các đơn vị hành chính và được quản lý bởi cơ quan Ủy ban nhân dân cấp xã. Trong một nghiên cứu khác, tác giả Hồ Xuân Hùng (2010) còn có quan điểm rằng “nông thôn là khu vực sinh sống và làm ăn của người dân với các hoạt động kinh tế - văn hóa – xã hội không phải đặc trưng của khu vực đô thị.

Những nhận định từ nghiên cứu khoa học trên có thể giúp chúng ta hiểu rằng nông thôn là một vùng lãnh thổ nằm ngoài khu vực đô thị mà người dân chủ yếu canh tác nông nghiệp – một ngành nghề không phổ biến tại các vùng đô thị nói chung. Thực tế, khu vực nông thôn luôn gắn liền với những hành ảnh canh tác và sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp. Tuy nhiên, kinh tế của khu vực này thường thấp hơn vùng đô thị và có xu hướng gặp khó khăn nhiều hơn. Ngoài ra, khu vực nông thôn thường không chứng kiến sự thay đổi diện mạo mạnh mẽ trong khoảng thời gian nhất định giống như các thành phố và đô thị.

Vai trò của nông thôn trong phát triển KT-XH Khu vực nông thôn có nhiều vai trò quan trọng đối với nền kinh tế - xã hội của của tất cả quốc gia. Cụ thể, vai trò đó thể hiện: 4 - Khu vực nông thôn tạo ra không gian cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của nông nghiệp – một lĩnh vực kinh tế có nhu cầu lớn về đất đai và không gian. Ở bất kỳ thời điểm nào hoặc bất kỳ đất nước nào, các ngành nông nghiệp luôn tạo ra kế sinh nhai, giúp ổn định cuộc sống cho phần lớn dân cư nông thôn. Bên cạnh đó, ngành này cũng là nền tảng cho phát triển KT-XH, ổn định chính trị, tạo tiền để để công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ một nước nông nghiệp thông qua việc cung cấp lương thực, thực phẩm, và nguyên liệu sản xuất cho các ngành khác.

Theo nghiên cứu của Trần Công Thắng (2021), nông nghiệp phát triển giúp giảm nghèo nhanh chóng và bền vững, bởi nông nghiệp phục vụ phần lớn cho người lao động ở khu vực nông thôn. - Các khu vực nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Tại đa số các quốc gia trên thế giới, cội nguồn của dân tộc đều được hình thành và phát triển từ các vùng nông thôn. Bản sắc văn hóa làng quê vì thế cũng đồng nghĩa với bản sắc văn hóa từng dân tộc.

- Nông thôn là khu vực sản xuất lương thực, thực phẩm – những sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống của con người mà không có ngành nghề nào khác có thể sản xuất thay thế (Vũ Nhữ Thăng, 2015). Nông thôn mới 1. Nông thôn mới Nông thôn mới là khu vực nông thôn có nền kinh tế - xã hội cũng như là cơ sở hạ tầng từng bước được phát triển và hiện đại hóa. Bên cạnh đó, nông thôn mới cũng thường gắn liền với các hình ảnh tổ chức sản xuất hợp lý, bộ mặt nông thôn từng bước được thay đổi.

Nhà nước Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW vào ngày 05/08/2008 về nông nghiệp và phát triển nông thôn và trong văn bản này đã định nghĩa rằng nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại cùng với các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý có gắn liền với các ngành công nghiệp và dịch vụ. Bên cạnh đó, xã hội của một khu vực nông thôn mới có sự ổn định về mặt chính trị và văn hóa. Nền dân trí của vùng này cũng cao và có xu hướng thích ứng với các tiêu 5 chí phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, và thích ứng với biến đổi khí hậu. Ngoài ra, Nghị quyết này cũng có đề cập đến chi tiết rằng Đảng và Nhà nước là đơn vị lãnh đạo hệ thống chính trị ở vùng nông thôn mới (Vũ Nhữ Thăng, 2015).

Những yêu cầu đặt ra đối với xây dựng nông thôn mới Để đảm bảo nông thôn Việt Nam phát triển bền vững, đạt được những mục tiêu đã được Đảng, Chính phủ đề ra, yêu cầu đặt ra đối với XD NTM giai đoạn tiếp theo như sau: Các nội dung phát triển và hoạt động thực tế của chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới việc đảm bảo phát triển bền vững cho khu vực nông thôn và quan tâm đến tất cả các vấn đề gắn liền với đời sống của người dân như kinh tế, không gian sống, môi trường chung, các dịch vụ xã hội căn bản, quản lý và lãnh đạo, và bảo tồn cũng như phát huy các giá trị di sản. Việc xây dựng nông thôn mới cần luôn phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng địa phương. Nhà nước chỉ đóng vai trò là đơn vị định hướng, ban hành các chính sách, cơ chế hỗ trợ, tiêu chí, quy chuẩn, đào tạo các cấp, các ngành, cán bộ, hướng dẫn thực hiện. Ngoài ra, theo nghiên cứu của Trần Công Thắng (2021), các hoạt động xây dựng nông thôn mới cụ thể là do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc một cách dân chủ và minh bạch để quyết định và tổ chức thực hiện.

Như vậy, có thể nói công tác xây dựng nông thôn mới chính là việc theo đuổi và thực hiện một chương trình phát triển toàn diện và bền vững cho ngành nông nghiệp, cho người nông dân, và cho khu vực nông thôn nhằm nâng cao đời sống người dân và đẩy mạnh sự tiến bộ về mặt kinh tế - xã hội. Một mục tiêu trọng tâm nữa của việc này là nâng cao đời sống người dân vùng nông thôn, xây dựng xã hội nông thôn năng động, văn hoá hiện đại nhưng vẫn bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của riêng từng khu vực (Huỳnh Công Chất, 2016). Tính tất yếu của xây dựng nông thôn mới Những vấn đề về nông thôn, người nông dân, và nông nghiệp chính là những khía cạnh đã và đang nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế. Đại hội VII của Đảng đã chỉ rõ ra rằng việc phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn liền với các ngành kinh tế khác để phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới chính là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế và xã hội của quốc gia.

Việc xây dựng nông thôn mới chính là một biện pháp tất yếu để có thể thúc đẩy văn hóa và xã hội của các khu vực, nâng cao dân trí, và giải phóng sức lao động của người dân. Bên cạnh đó, với những lợi ích kể trên, một khu vực nông thôn mới sẽ tạo ra một xã hội giàu có, ổn định, văn minh, hiện đại, nhưng vẫn gìn giữ và phát huy được những giá trị văn hóa và bản sắc truyền thống của khu vực. Ngoài ra, xây dựng nông thôn mới còn mang tính tất yếu do những chỉ đạo, chiến lược của Đảng và Nhà nước trong các phong trào phát triển toàn diện (Hồ Xuân Hùng, 2010; Phạm Huỳnh Minh Hùng, 2017). Tiêu chí xây dựng nông thôn mới Thủ tướng Chính phủ đã ban hành bộ tiêu chí quốc gia để đánh giá xã nông thôn mới trong giai đoạn 2016-2020 với 19 tiêu chí được thể hiện qua hình 1.

Bộ 19 tiêu chí này được chia ra thành 5 nhóm: Nhóm quy hoạch; nhóm hạ tầng kinh tế - xã hội; nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất; nhóm văn hóa xã hội và môi trường; nhóm hệ thống chính trị. Đối với từng tiêu chí, sẽ quyết định cụ thể những tiêu chí chung cũng như tiêu chí riêng theo từng vùng. Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới (Nguồn: Chính phủ Việt Nam, 2016) Trong giai đoạn 2021 – 2025 đang diễn ra và sắp tới, Chính phủ đã có nhiều điều chỉnh và bổ sung cho bộ tiêu chí nông thôn mới của giai đoạn 2016 – 2020 để có thể khắc phục các hạn chế và tiêu chuẩn hóa sao cho phù hợp với những sự thay đổi về mặt kinh tế - xã hội cũng như là đặc thù của từng vùng miền. Chính vì vậy, bộ tiêu chí cho giai đoạn 2021 - 2025 đã có sự thống nhất với 3 cấp độ tiêu chí: bộ tiêu chí xã NTM, bộ tiêu chí huyện NTM, và bộ tiêu chí tỉnh NTM.

Nhóm xã và huyện cũng được chia thành 03 mức độ NTM nhỏ hơn, bao gồm việc đạt chuẩn, nâng cao, và kiểu mẫu. Riêng đối với cấp tỉnh, Nhà nước hiện tại mới chỉ tập trung một cấp bậc đó là đạt chuẩn nông thôn mới. Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới 1. Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới - Căn cứ vào Quyết định số 491/QĐ-TTg (được ban hành vào ngày 16 tháng 04 năm 2009 bởi Thủ tướng chính phủ), các nội dung hoạt động của chương trình xây dựng nông thôn mới phải thực hiện được mục tiêu hoàn thành 19 tiêu chí được nêu trong bộ tiêu chí quốc gia về việc xây dựng nông thôn mới.

- Nguồn vốn cần được lồng ghép từ các chương trình mục tiêu đa quốc 8 gia, các chương trình hỗ trợ có mục tiêu, và các dự án đang được triển khai trên địa bàn của một khu vực hành chính nhất định. - Các chương trình xây dựng nông thôn mới phải được gắn kết với kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội của mỗi địa phương. Bên cạnh đó, cần phải có cơ chế đảm bảo việc thực hiện các kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền thành lập và phê duyệt nhằm xây dựng nông thôn mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ