TRUNG TÂM UNESCO PHỔ BIẾN KIẾN THÍte VĂN HÓA - GIÁO-Gục CỘNG ĐÔNG NÔR6 N6MỆP, MdNG iẦN,NÔRfiTHếN Ở VIÊT NAM VÀ MỘT số NƯỚC NGUYỀN NGỌC - Đỗ ĐỨC ĐỊNH Tuyển chọn, giói thiệu NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA DÂN TỘC Hà Nội-2000 LỜI TÁC GIÁ N ông nghiệp từ lâu đã là một lĩnh vực hoạt động, sản xuất quan trọng để bảo đảm cuộc sống của con người. Hiện nay, mặc dù con người đã đạt được trình độ pếĩẫt triển rất cao về công nghiệp và khoa học kỹ thuật cũng như nhiều lĩnh vực sản xuất khác nhưng nhiều nước trên thế giới vẫn còn phải sống dựa vào hoạt động nông nghiệp là chủ yếu. Việc phát triển nông nghiệp cũng như nhiều vân đề liên quan đến nông dân, nông thôn luôn là những đề tài được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Ở Việt Nam, đó cũng là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng và cần thiết.
Nhàm cung cấp thêm tài liệu cho các nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm đến vấn đề này ở Việt Nam, chúng tói đã lựa chọn và tập hợp, dịch một sô' công trình của các tác giả nước ngoài thành quyển sách này. Một sô' thông tin cho đến nay chi còn tính chất lịch sử và một sô' kết luận cũng chì có giá trị tham khảo. Tuy nhiên, bạn đọc sẽ tìm thấy ở đây những gợi ý lý thú cho những công trình nghiên cứu sau này. Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý quý báu của bạn đọc.
Thay mặt tập thể tác giả TS. ĐỖ ĐỨC ĐỊNH Chủ tịch hội đồng khoa học Trung tâm nghiên cửu kinh tế xã hội 5 CÁC HỌC THUYẾT VE HÌNH THÁI NÔNG NGHIỆP NƯƠNG RAY YÀ n e n k in h TẾ CHÍNH TRỊ CỦA TÌNH TRẠNG NGƯ DốT MICHAEL R. TÓM TẮT gày nay, hình thái nông nghiệp nương rẫy là trọng tâm của nhiều tranh luận trong bối cảnh phát triển nông lâm nghiệp ở các quốc gia nhiệt đới ẩm. Tuy nhiên, bài viết này cho rằng đa sô' những tranh luận đó không đề cập đến khía cạnh thực nghiệm của hình thái nông nghiệp nương rẫy mà lại đề cập đến những luận điểm huyễn hoặc được chấp nhận m ột cách rộng rãi về những người làm nông nghiệp nương rẫy.
Bài viết này nghiên cứu chi tiết ba trong số những luận điểm này. Một luận điểm cho rằng những người làm nông nghiệp nương rẩy sờ hữu đất đai chung (hoặc không sở hữu chút đất đai nào), làm việc chung và tiêu thụ sản phẩm chung với nhau. Sự thật là đất đai của họ (kể cả phần đất bỏ hóa dưới dạng rừng thứ sinh) được từng hộ gia đình sở 7 MtaL, AqỊT emmầ tác bang sức lao động của từng gia đỉnh €ầ Ể Ề ề ầ m ặ c tàng nhóm lao động tương hỗ chứ không pầỂã tà tm đọng tập thể. Và từng gia đình cũng tự tiêu ẩhp mâm phẩm cda mmh một cách riêng rê.
Luận điểm tầm ầ m th o rằng làm nông nghiệp nương rẫy ở vùng đất rtttg' ¡à phá hoại và lăng phí ; và trong trường hợp xấu n ầ ề t sẽ đ ể lạ i hậu quả là những diễn th ế đồng cỏ cằn côi, vô dụng. Thực ra, đây là một cách sử dụng rừng có nấng suất và, trên thực tế, nó còn có lợi hơn hoạt độtặg khai thác gỗ thương mại nếu xét về s ố dấn được nttm sống. Và các diễn th ế từ rừng chuyển sang đồng cỏ thi nổi bật không phải là do lòng tham mà là do sức ép dàn s ố đối với đất đai gia tảng và do hoạt động thâm canh. Cỏ - k ể cả loại cỏ Imperata Cylindrica - vừa có giá trị làm đất đai màu mỡ trở lại, vừa có tác dụng làm thức ăn cho gia súc.
Luận điểm thứ ba cho rằng nền kinh t ế của những người làm nông nghiệp nương rẩy hoàn toàn mang tính tự cung tự cấp và tách biệt ra khỏi phần còn lại của thê giới. Sự thực là ngoài việc trồng những cây lương thực để tự nuôi sống mình, những người làm nông nghiệp nương rẩy điển hình còn trồng những nông sản hàng hoá khắc nữa và do đó, họ thực sự hội nhập vào nền kinh t ế th ế giới hơn là nhiều người làm nông nghiệp dưới những hình thức khác thâm canh hơn. Trong phần kết luận của bài viết, với chút cố gắng nhằm giải thích nguồn gốc của những luận điểm này, có một điều đáng lưu ý rằng người ta đã tạo điều kiện để bành trướng sự điều hành và khai thác bên ngoài vào lãnh thổ của những người làm nông nghiệp nương 8 rẩy. Và vi vậy, tốt nhất, có th ể giải thích điều này như là m ột phản ánh về nền kinh t ế chính trị của những xã hội lớn hơn nơi người ta đang sống.
GIỚI THIỆU Theo những ước tính gần đây, 240-300 triệu người đang làm nông nghiệp nương rẫy trên xấp xỉ một nửa diện tích đất đai ở các khu vực nhiệt đói. Vói quy mô đất đai và dân số như vậy và với những nỗ lực lớn lạo nhằm phát triển kinh tế và xã hội ở hầu hết các nước nhiệt đới thì có lề, việc hình thái nông nghiệp nương rẫy trở thành chủ đề đứợc xem xét cẩn thận và gây tranh luận ghê gớm như vậy là một điều không thể tránh khỏi. Và cũng chẳng có gì là ngạc nhiên khi người ta phân tích và thảo luận nhiều về vai trò của nó trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là người ta không tranh cãi hay thảo luận về thực'trạng của hệ thống nông nghiệp này, mà chủ yếu lại về một khái niệm huyễn hoặc đậ bị xuyên tạc rất nhiều của nó.
Sự xuyên tạc này đưa thêm một nhân tố ngoài mong muốn vào quá trình phát triển và nó đã làm cho quá trình phát triển kém thành công hơn so với mức mà lẽ ra sẽ đạt được. Trong bài viết này, tôi sẽ minh hoạ vấn đề bằng cách phân tích vắn tắt ba trong sô" những luận điểm phổ biến nhất liên quan đến những người lậm nông nghiệp nương rẫy : đó là các luận điểm về chủ nghĩa cộng sản 9 đơn sơ của họ ; về việc sử dụng môi trường không đúng và về sự tách biệt khỏi các nền kinh tế quốc tế, quốc gia và khu vực của họ. Tôi sẽ lập luận rằng các mối quan hệ kinh tế của họ thực ra không mang tính tập thể mà có tính chất đối ứng ; rằng họ sử dụng và làm biến đổi môi trường rất hiệu quả, và đó là một chức năng hợp lý tạo ra trạng thái cân bằng đặc biệt giữa dân sô' và đất đai ; và rằng họ có những liên kết chặt chẽ với nền kinh tế tơàn cầu. Cuối cùng, tôi sẽ gợi ý rằng, việc người ta cứ cố tình hiểu sai bất cứ một điểm nào trong số những điều nói trên đều có thể được giải thích dưới góc độ tư lợi kinh tế và chính trị của những xã hội lớn hơn, trong đó những người làm nông nghiệp nương rẫy là thành viên.
VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN ĐƠN s ơ Những người làm nông nghiệp nương rẫy có khuynh hướng sử dụng đất đai và sức lao động của mình khác với những người làm nông nghiệp theo phương pháp thâm canh hơn. Nhiều nhà quan sát đã phản ứng lại tình trạng không tương đồng này, coi đó như là bằng chứng về một hệ tư tưởng khác biệt một cách cơ bản, hệ tư tưởng của "chủ nghĩa cộng sản". Vấn đề sở hữu đất đai tập thể Một số nhà quan sát (đặc biệt là những quan chức chính phủ) đã xác nhận rằng những ngưòi làm nông nghiệp 10 nương rẫy hoặc là đang sở hữu đất đai chung hoặc không sở hữu chút đất đai nào cả. Kết luận này dựa trên cách giải thích sai lầm về hai hiện tượng : thứ nhất, người ta không phân biệt được quyền sở hữu làng xã vói quyền sở hữu gia đình ; và thứ hai, người ta hiểu sai về tỉ lệ lớn giữa thòi gian đất đai bị bỏ hoá và thời gian đất đai được canh tác.
Đối vói vấn đề thứ hai, vào bất cứ thời điểm nào thì những người làm nông nghiệp nương rẫy cũng chỉ canh tác được trên một phần đất đai tương đối nhỏ của mình mà thôi : phần lớn đất đai thuộc lãnh thổ của một làng điển hĩnh bị rừng thứ sinh bao phủ (có lẽ có trồng lẫn vào đó những cây ăn quả). Những người ngoài cuộc thường hay cho rằng phần đất rừng này không được canh tác và do đó,, không thuộc sở hữu của ai trong khỉ, trên thực tế, đó chỉ đơn thuần là đất bô hoá. Trong một hệ thống nương rẫy trồng ngũ cốc điển hình ở Đông Nam Á, cứ sau một (hoặc hai) vụ canh tác ngưừi ta lại bỏ hoá đất và trồng rừng thứ sinh lên trên vòng đất đó. Như thế, rừng sẽ cải tạo đất tới một mức độ mà người ta lại có thể canh tác trên đó và chu trình cứ thế tiếp diễn.
Do vậy, thòi kỳ bỏ hoá đóng một vai trò quan trọng trong toàn bộ chu kỳ nôqg nghiệp. Kết quả là, thông thường thì phần đất' bỏ hoá và được trồng rừng lên trên không hề "bỏ hoang" chút nào so với đất canh tác. Trên toàn khu vực Đông Nam Á, các hộ gia đình cá thể cụ thể thường có quyền sở hữu rừng thứ sinh ; những quyền này được xác lập ngay từ đầu bằng việc khai phá rừng nguyên sinh trên một vùng đất, và sau này, quyền sở hữu đó được tiếp nối trên phần rừng thứ sinh trồng lại sau mỗi vụ canh tác tại vùng 11 đ£fc đỗ. Những ngưòi ngoài cuộc không công nhận sự tồn tại những quyển sở hữu đó, không chỉ đối với phẩn đất canh tác mà còn cả vói đất bỏ hoá.
Và đây chính là nguồn gác sinh ra những khó khăn liên tiếp trong quá trình phát triển nguồn lực tự nhiên và con người trong vùng lãnh thổ của những người làm nông nghiệp nương rẫy. Không được sự công nhận như thế, một số cư dân nông nghiệp nương rẫy đã khéo léo biến đổi tập quán sử dụng đất đai của mình theo một phương pháp thích nghi với khái niệm quyền sở hữu đất đai phổ biến trong xã hội rộng lớn hơn. Chẳng hạn, theo lệ thường, một số người Banjare ở phía Nam Kalimantan (Indonesia) trổng lẫn các loại cây ăn quả (VD.