CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XÁC ĐỊNH NỘI DUNG ĐĂNG KÝ KHAI SINH THUỘC THẨM QUYỀN CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Khái niệm về đăng lý khai sinh và xác định nội dung đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền của ủy ban nhân dân cấp xã 1. Khái niệm về đăng ký khai sinh Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì việc “khai sinh” hay “đăng ký khai sinh” thuộc phạm trù của Luật Hộ tịch năm 2014. Khái niệm “đăng ký hộ tịch” theo quy định hiện hành tại Khoản 2 Điều 2 Luật Hộ tịch năm 2014: “Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư”.
Đứng ở góc độ chuyên môn thì đăng ký khai sinh là việc cơ quan nhà nước công nhận/xác nhận sự kiện một người được sinh ra và ghi vào sổ các thông tin hộ tịch cơ bản của người đó (gồm: họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; số định danh cá nhân) và của cha mẹ (gồm: họ, chữ đệm, tên, nơi cư trú, số định danh cá nhân (nếu có) của cha, mẹ…). Đăng ký khai sinh và cấp giấy khai sinh là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, tạo cơ sở pháp lý để xác định tư cách công dân, qua đó chính thức thiết lập mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, đồng thời là cơ sở pháp lý để các cá nhân xác lập/thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Vì vậy, đăng ký khai sinh là sự kiện hộ tịch quan trọng nhất, cấp “tấm thẻ vào đời” cho mỗi cá nhân. Trong quy định hiện hành không có khái niệm đăng ký khai sinh một cách cụ thể, nó là một dạng của đăng ký hộ tịch được thể hiện qua hình thức và nội dung của đăng ký khai sinh Như vậy, có thể hiểu đăng ký khai sinh là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua thủ tục đăng ký khai sinh ghi vào Sổ đăng ký khai sinh một sự kiện khai sinh của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư.
Khái niệm về xác định nội dung đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền của ủy ban nhân dân cấp xã Dựa trên khái niệm về đăng ký khai sinh nêu trên, ta có thể khẳng định, việc đăng ký khai sinh là hoạt động của cơ quan đăng ký hộ tịch, mà cụ thể ở đây là Ủy 7 ban nhân dân cấp xã. Hoạt động này nằm trong phạm vi quản lý nhà nước về đăng ký và quản lý hộ tịch ở cấp xã. Việc đăng ký khai sinh là ghi nhận một sự kiện khai sinh được xảy ra trên thực tế, khi đó, sự kiện khai sinh này được người yêu cầu đăng ký khai sinh cung cấp các thông tin theo quy định pháp luật có liên quan đến nội dung đăng ký khai sinh. Dựa trên các nội dung khai sinh được người yêu cầu đăng ký khai sinh cung cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã (hay công chức làm công tác hộ tịch) có trách nhiệm đối chiếu việc xác định các nội dung khai sinh có đúng với quy định pháp luật có liên quan để chấp nhận sự kiện khai sinh này.
Kết quả của việc xác định này là giấy khai sinh, trong đó có nội dung đăng ký khai sinh do người yêu cầu cung cấp và được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp xã. Như vậy, ta có thể khái niệm về xác định nội dung đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền của ủy ban nhân dân cấp xã như sau: Xác định nội dung đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền của ủy ban nhân dân cấp xã là hoạt động quản lý nhà nước về Hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc kiểm tra, đối chiếu các nội dung đăng ký khai sinh của một sự kiện sinh trên thực tế phù hợp với quy định pháp luật về nội dung đăng ký khai sinh. Đặc điểm về xác định nội dung đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền của ủy ban nhân dân cấp xã Theo quy định của Luật Hộ tịch, thẩm quyền đăng ký hộ tịch nói chung hay thẩm quyền đăng ký khai sinh nói riêng thuộc về Cơ quan đăng ký hộ tịch bao gồm: Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã), Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp huyện), Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi là Cơ quan đại 4 diện). Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ xoay quanh thẩm quyền giải quyết đăng ký khai sinh của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Đặc điểm về chủ thể đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước được trao quyền đăng ký khai sinh cho trẻ em, công dân Việt nam. Tuy nhiên, không phải bất kỳ Ủy ban nhân dân cấp xã nào cũng có thẩm quyền đăng ký khai sinh như trên, mà phải là “Ủy 4 Khoản 1 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2014 8 ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai 5 sinh”. Như vậy, luật giới hạn nơi có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho một trường hợp nhất định chỉ là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của cha hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của mẹ. Như vậy, khi xác định thẩm quyền đăng ký khai sinh của Ủy ban nhân dân cấp xã, ta cần căn cứ vào yếu tố quốc tịch (công dân mang quốc tịch Việt Nam) và yếu tố nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ của trẻ.
Chủ thể được trao quyền đăng ký, người trực tiếp thực hiện công việc đăng 6 ký khai sinh là công chức tư pháp làm công tác hộ tịch. Chính vì vậy, khi xác định nội dung đăng ký khai sinh thì công chức này chịu trách nhiệm chính trong việc ghi nhận các thông tin về nội dung đăng ký khai sinh như: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch của trẻ. Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú của cha, mẹ trẻ. Đặc điểm về đối tượng đăng ký khai sinh Giấy khai sinh là cơ sở quan trọng để các cá nhân có mối quan hệ pháp lý với nhau trên cơ sở huyết thống hoặc nuôi dưỡng.
Thông qua đăng ký khai sinh, nhà nườc sẽ xác định mối quan hệ giữa nhà nước với công dân; giữa công dân với công dân trong các quan hệ xã hội. Để thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh thì không thể một mình công chức làm công tác hộ tịch có thể tự suy diễn ra tình huống đăng ký khai sinh mà phải có người đăng ký khai sinh theo quy định pháp luật (người đăng ký khai sinh). Mà người đăng ký khai sinh phải là người có quan hệ thân thuộc với người được khai 7 sinh hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ. Đối tượng được đăng ký khai sinh là trẻ em.
Đặc điểm về nội dung đăng ký khai sinh Nội dung đăng ký khai sinh có một đặc điểm quan trọng là các thông tin cơ bản của một con người, nó gắn liền với quyền nhân thân của người đó, và một khi các thông tin cơ bản này đã được xác định thì sẽ là cơ sở để bản thân con người đó xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ xã hội. Đặc điểm về yêu cầu xác định nội dung đăng ký khai sinh Đây là vấn đề quan trọng để ban hành chính sách, sử dụng các thông tin góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Bởi vì, con người sử dụng các thông 5 Điều 13 Luật Hộ tịch năm 2014 6 Điểm d Khoản 1 Điều 73 Luật Hộ tịch năm 2014 7 Khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 9 tin trong giấy khai sinh để gắn vào các quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội,… Một khi các thông tin trong giấy khai sinh không phù hợp, không theo ý chí phục vụ lợi ích cho con người thì nó sẽ gây ra hiệu ứng ngược lại, làm cho quyền con người của họ bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng. Cơ sở để xác định nội dung đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã Để xác định nội dung đăng ký khai sinh thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã thì trước hết là quy định pháp luật quy định thủ tục này thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp xã, đó là thẩm quyền tiếp nhận, thẩm quyền xử lý, và thẩm quyền giải quyết phải thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã.
Bên cạnh đó thì dựa vào các quy định về quốc tịch thì thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp xã đối với những trường hợp không có quốc tịch nước ngoài hoặc người không quốc tịch. Xét đến thẩm quyền đăng ký hộ tịch (trong đó có đăng ký khai sinh) của Ủy ban nhân dân cấp xã, có quy định: “Đăng ký sự kiện hộ 8 tịch…cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước”. Như vậy, khai sinh do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp chỉ là “công dân Việt Nam cư trú ở trong nước”, có hai yếu tố cần phải được xác định, đó là “công dân Việt Nam” và “cư trú ở trong nước”. 9 Trường hợp người được xem là “công dân Việt Nam” thì phải có quốc tịch Việt Nam.
Trẻ em khi sinh ra và được đăng ký khai sinh có quốc tịch Việt Nam, như vậy cần phải có các chủ thể có liên hệ đến quốc tịch Việt Nam hoặc bản thân trẻ được hưởng quốc tịch Việt Nam theo quy định. Trường hợp ở đây có các chủ thể được xác định là cha của trẻ, mẹ của trẻ, trẻ em và người đi đăng ký khai sinh.