CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo cách phân loại của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thì rủi ro ngân hàng có thể được chia thành 03 loại chính: (1) rủi ro thị trường, (2) rủi ro tín dụng, (3) rủi ro hoạt động. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tiếp cận rủi ro tín dụng để làm rõ hơn các khái niệm cũng như nguyên nhân dẫn đến nợ xấu tại các NHTM.
Như chúng ta đã biết, trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của NHTM. Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Có thể nói, đây là rủi ro có ảnh hưởng rất lớn và thường xuyên xảy ra trong hoạt động ngân hàng. Có nhiều cách tiếp cận khái niệm rủi ro tín dụng: Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thì rủi ro tín dụng được hiểu là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thanh toán nợ cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn.Fitch trong cuốn “Dictionary of banking systems” có cách định nghĩa khác về rủi ro tín dụng, theo đó, rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.
Trần Huy Hoàng (2011) trong “Giáo trình Quản trị Ngân hàng thương mại”, rủi ro tín dụng là rủi ro không thu hồi được nợ đến hạn do người vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn. Đây là loại rủi ro gắn liền với hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 02) thì rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng được định nghĩa “là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ và khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ nghĩa trả nợ khi đến hạn.
Phân loại rủi ro tín dụng 1. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì rủi ro tín dụng được chia thành 02 loại là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính đó là rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ.
Trong đó: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro đảm bảo: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được chia thành 02 loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Trong đó: + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Căn cứ vào tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì rủi ro tín dụng được chia thành 02 loại là rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan.
Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. Rủi ro chủ quan: do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác. Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng thì rủi ro tín dụng được chia thành 02 loại là rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn và rủi ro do không có khả năng trả nợ. Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoảng thời gian hoàn trả nợ vay.
Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay. Rủi ro do không có khả năng trả nợ: là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng chi trả, ngân hàng phải thanh lý tài sản đảm bảo của doanh nghiệp để thu nợ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tổng quan về nợ xấu 1.
Khái niệm nợ xấu Hiện nay, chưa có một khái niệm nào về nợ xấu được áp dụng chung trên toàn thế giới. Một số tác giả, tổ chức trên thế giới đã đưa ra các khái niệm nợ xấu như sau: Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS): BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu mà chỉ xác định, khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (1) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; (2) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (Basel Committee on Banking Supervison, 2002). BCBS đặc biệt nhấn mạnh tới khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tương lai” (expected loss) khi đánh giá một khoản vay. Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn quá 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ.
Định nghĩa nợ xấu của Nhóm chuyên gia tư vấn (AEG) của Liên hợp quốc: Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Khái niệm nợ xấu của Tổ chức Tiền tệ thế giới (IMF): Trong Hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (FSIs), IMF đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau: “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ khi người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế”. Như vậy, quan điểm của IMF về nợ xấu cũng tương tự quan điểm của Nhóm chuyên gia tư vấn (AEG) của Liên hợp quốc và BCBS về thời gian xác định một khoản nợ được xem là nợ quá hạn.
Riêng tại Việt Nam, hiện nay khái niệm nợ xấu được quy định tại Thông tư số 02. Thông tư này định nghĩa về nợ quá hạn và nợ xấu như sau: + “Khoản nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. + “Nợ xấu” là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn (chi tiết các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 nêu tại mục 1. Phân loại nợ 1.Giới thiệu cách phân loại nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro (DPRR) tại một số quốc gia Laurin và cộng sự (2002) đã chỉ ra rằng việc phân loại nợ khó có tiêu chuẩn kế toán quốc tế thống nhất.
Việc tiếp cận phân loại nợ được xem là trách nhiệm của người quản lý hoặc chỉ là vấn đề báo cáo giám sát.1 cho thấy, một số quốc gia trên thế giới như Ý, Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Singapore… có những điểm tương đồng trong việc phân loại nợ (gồm 05 nhóm). Một số quốc khác lại có cách phân loại nợ khác như Nga và Đức chỉ phân thành 04 nhóm, Tây Ban Nha phân thành 06 nhóm nợ.