Chương 1: Giới thiệu (lí do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu). Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước đây. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm.
Chương 5: Kết luận, giải pháp và hạn chế của đề tài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY.1 Tổng quan lý thuyết. Nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp. Tuy nhiên, hầu hết những cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó.
Vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ. Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia. Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân). Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia.
Theo Luật Quản lý nợ công Việt Nam năm 2009, nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Theo đó, nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ Chính phủ không bao gồm nợ do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỷnh, thành phố trực thuộc Trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành. Thông thường, nợ nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn trong nợ Chính phủ và ODA chiếm tỷ trọng lớn trong nợ nước ngoài. Theo các tiếp cận của WB (2002), nợ công theo nghĩa rộng được hiểu là nghĩa vụ nợ của bốn nhóm chủ thể, bao gồm: nợ của Chính phủ, Trung ương và các Bộ, ban, ngành Trung ương; nợ của chính quyền địa phương; nợ của WB và nợ của các tổ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn hoặc việc quyết lập ngân sách phải được phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ. Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán.
Các tổ chức công phi tài chính có thể là các tập đoàn nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực điện tử, viễn thông,…hoặc cũng có thể là các tổ chức như bệnh viện công, trường học công,…Những tổ chức công tài chính là những tổ chức nhận hỗ trợ từ Chính phủ và hoạt động trong lĩnh vực tài chính, thực hiện nhiệm vụ nhận tiền gửi và trả lãi thuộc khu vực công, cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính, bảo hiểm hay quỹ lương hưu. Cho đến nay có nhiều cách phân loại nợ công khác nhau, theo đó: nếu phân loại theo chủ nợ thì nợ công gồm nợ trong nước và nợ nước; nếu phân loại theo thời hạn vay thì nợ công gồm nợ ngắn hạn (dưới 1 năm), trung hạn (từ 01 đến dưới 10 năm) và dài hạn (trên 10 năm); nếu phân loại theo tính chất/hình thức vay thì nợ công gồm vay thương mại từ các định chế tài chính với lãi suất thị trường; phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh hay trái phiếu chính quyền địa phương trên thị trường tài chính trong nước hoặc quốc tế và vay ưu đãi (ODA) từ chính phủ các nước khác hay từ các tổ chức quốc tế như WB, ADB,… với lãi suất ưu đãi rất thấp và thời gian ân hạn (thời gian bắt đầu trả nợ gốc) dài. Tuy nhiên, hình thức vay ưu đãi chỉ áp dụng cho những nước nghèo có thu nhập thấp.2 Tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh sự tăng hay giảm của nền kinh tế giữa năm này so với năm trước hoặc giữa thời kỳ này so với thời kỳ trước.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tăng trưởng kinh tế có thể biểu hiện bằng quy mô tăng trưởng hoặc tốc độ tăng trưởng. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự tăng lên hay giảm đi nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối, phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế giữa các năm hay các thời kỳ. Tăng trưởng kinh tế được phản ánh ở nhiều chỉ tiêu nhưng chỉ tiêu thường được sử dụng là GDP. Sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành GDP như tiêu dùng nội địa, đầu tư, chi tiêu chính phủ, cán cân thương mại,… sẽ làm thay đổi quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Quá trình tăng trưởng thể hiện các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, công nghệ, trình độ quản lý, quan hệ thị trường. được khai thác và sử dụng có hiệu quả cao nhất. Tăng trưởng kinh tế bao hàm cả tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài hạn. Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã lượng hóa tác động của các nguồn lực đến chất lượng và động thái tăng trưởng thông qua các mô hình như mô hình tái sản xuất giản đơn của C.Mác, tái sản xuất mở rộng của V.Lênin, mô hình các giai đoạn tăng trưởng kinh tế của W.Rostow hoặc Solow.
hoặc hàm sản xuất Cob Douglas. Quá trình tăng trưởng kinh tế có thể bao gồm tăng trưởng hướng nội, tăng trưởng hướng ngoại hoặc là sự kết hợp của cả hai tùy điều kiện và sự lựa chọn chiến lược của các quốc gia.3 Tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế Tokunbo và cộng sự (2007) với các nghiên cứu ban đầu của các nhà kinh tế trong những thập niên 50 và 60 đã tìm thấy một lý thuyết chung về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Theo đó, việc chuyển giao hợp lý các nguồn lực nước ngoài (thông qua các khoản vay, viện trợ và tài trợ) tại các nước kém và đang phát triển sẽ giúp bổ sung nguồn vốn thiếu hụt trong nước và chuyển đổi nền kinh tế để tạo ra mức tăng trưởng cao hơn. Các quốc gia ở giai đoạn phát triển đầu với dung lượng vốn nhỏ sẽ có những cơ hội đầu tư với tỷ suất hoàn vốn cao hơn so với các nền kinh tế phát triển.
Do vậy, chỉ cần các quốc gia này sử dụng vốn vay để đầu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tư sản xuất thì tăng trưởng sẽ tăng và cho phép họ thanh toán các khoản nợ vay kịp thời. Điều này cũng hàm ý rằng trong ngắn hạn tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Nợ nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nợ công. Do đó, hàm ý chính sách này cũng đúng với mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế.
Soludo (2001) trong nghiên cứu của mình, chỉ ra rằng chu kỳ nợ có 03 giai đoạn: trong giai đoạn đầu tiên nợ phát triển để bổ sung các nguồn lực thiếu hụt trong nước; trong giai đoạn thứ hai, quá trình sử dụng nợ tạo ra thặng dư nhưng có thể không đủ bù đắp các khoản thanh toán lãi suất; trong giai đoạn thứ ba, quá trình sử dụng nợ phải tạo ra thặng dư đủ để trang trải lãi và nợ gốc. Các nghiên cứu trên chỉ mới đề cập đến mối quan hệ ngắn hạn giữa nợ và tăng trưởng kinh tế. Để giải thích toàn diện mối quan hệ lâu dài giữa nợ và tăng trưởng kinh tế, lý thuyết “Debt overhang” ra đời và được xem như một lý thuyết nền tảng. Lý thuyết này được giải thích qua đồ thị đường cong Laffer nợ.
Theo Krugman (1988) định nghĩa “debt overhang” là tình trạng số tiền dự kiến chi trả nợ sẽ giảm dần khi dung lượng nợ tăng lên. Lý thuyết “debt overhang” cho rằng nếu như nợ trong tương lai vượt quá khả năng trả nợ của một nước thì các chi phí dự tính chi trả cho các khoản nợ đó sẽ kìm hãm đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, từ đó ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng. Các nhà đầu tư tiềm năng sẽ lo sợ rằng khi quốc gia sản xuất càng nhiều thì họ sẽ bị các nước đánh thuế nặng hơn để chi trả cho các khoản nợ nước ngoài, do đó các nhà đầu tư sẽ khó có thể bỏ các chi phí đầu tư hiện tại để thu về sản lượng cao hơn trong tương lai. Lý thuyết “debt overhang” còn đi đến một kết quả rộng hơn, đó là mức nợ quá cao sẽ làm giảm các ưu đãi của chính phủ cho các hoạt động cải tổ cơ cấu và tài khóa do có thể làm gia tăng áp lực trả nợ.
Đồng thời, khi quy mô nợ công tăng lên, khó có thể chắc chắc rằng chính phủ sẽ viện tới những chính sách gì để giải quyết các khoản nợ phải trả. Trên thực tế, người ta cho rằng Chính phủ có thể dùng các công cụ tác động đến đầu tư để chi trả cho các khoản nợ. Đường cong Laffer nợ (Hình 1.1) cho thấy tổng nợ càng lớn sẽ đi kèm với khả năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 trả nợ càng giảm. Trên phần dốc lên của đường cong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng sẽ đi cùng với khả năng trả nợ cũng tăng lên.Trên phần dốc xuống của đường cong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng lại đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm.
Đỉnh của đường cong Laffer nợ là điểm mà tại đó sự tăng lên trong tổng nợ bắt đầu tạo ra gánh nặng cho đầu tư, cải tổ kinh tế và các hoạt động khác, điểm này có thể liên quan đến điểm mà tại đó nợ bắt đầu ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng. Do vậy, ở mức nợ hợp lí, vay nợ tăng lên sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng. Ngược lại, tổng nợ tích lũy lớn sẽ có thể cản trở tăng trưởng do tác động xấu đến tích lũy vốn sản xuất và tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp.