Luận văn: Đảng bộ Ninh Bình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới 2001-2010

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đảng bộ tỉnh ninh bình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2001 đến năm 2010, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2012

134
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh xây dựng nông thôn mới tại Ninh Bình 2001 2010

Chương trình xây dựng nông thôn mới Ninh Bình giai đoạn 2001-2010 là một quá trình chuyển đổi sâu sắc, được khởi xướng dựa trên những chủ trương lớn của Đảng về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Nhận thức rõ vai trò chiến lược của khu vực nông thôn, nơi chiếm tới 85,6% dân số (năm 2002), Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã tập trung lãnh đạo, đề ra các chính sách và biện pháp cụ thể nhằm thay đổi diện mạo quê hương. Giai đoạn này đặt nền móng cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (CNH, HĐH), hướng tới mục tiêu xây dựng các làng xã có cuộc sống ấm no, văn minh, sạch đẹp. Trọng tâm của chương trình là giải quyết các vấn đề cấp thiết như nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Quá trình này không chỉ là sự đầu tư về vật chất mà còn là sự vận động, phát huy dân chủ và khơi dậy sức mạnh nội lực từ chính người dân, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển bền vững trong những năm tiếp theo.

1.1. Bối cảnh Ninh Bình trước thềm chương trình nông thôn mới

Trước năm 2001, Ninh Bình vẫn là một tỉnh nghèo trong khu vực Đồng bằng sông Hồng. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, chiếm tới 47,63% cơ cấu GDP vào năm 2001. Đời sống người dân, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp kém, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Tỉnh thường xuyên phải đối mặt với thiên tai như lũ lụt, hạn hán, gây trở ngại lớn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống. Tình trạng thiếu việc làm còn phổ biến, nhiều thanh niên phải rời quê hương ra thành thị tìm việc, dẫn đến tình trạng thiếu lao động tại chỗ. Bên cạnh đó, tư tưởng bảo thủ, trì trệ trong một bộ phận dân cư cũng là rào cản cho quá trình đổi mới. Tuy nhiên, Ninh Bình cũng có những tiềm năng riêng với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên du lịch và truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời. Đây chính là những tiền đề và động lực quan trọng để Đảng bộ tỉnh Ninh Bình quyết tâm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới.

1.2. Chủ trương của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ Ninh Bình

Chủ trương xây dựng nông thôn mới được manh nha từ các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội VII (1991) và Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX (2003) về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Các văn kiện này nhấn mạnh việc phát triển toàn diện kinh tế nông thôn, gắn sản xuất với công nghiệp chế biến và thị trường, đồng thời xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại. Vận dụng sáng tạo các chủ trương này, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã ban hành các chương trình hành động cụ thể, tiêu biểu là Chương trình hành động số 04-CTr/TU. Tỉnh xác định mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững; xây dựng nông thôn giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh. Quá trình triển khai được thực hiện thông qua việc lồng ghép nhiều chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch, y tế, giáo dục, giảm nghèo, giao thông, thủy lợi, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thành công các mục tiêu đã đề ra trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới nông thôn.

II. Thách thức lớn trong xây dựng nông thôn mới ở Ninh Bình

Quá trình xây dựng nông thôn mới Ninh Bình trong giai đoạn 2001-2010 đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Xuất phát điểm của tỉnh còn thấp, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp với phương thức sản xuất nhỏ lẻ, manh mún. Cơ sở hạ tầng nông thôn, từ giao thông, thủy lợi đến điện, trường học, trạm y tế, đều trong tình trạng yếu kém và thiếu đồng bộ. Tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai thường xuyên đe dọa thành quả sản xuất và đời sống của người dân. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực tuy dồi dào nhưng chất lượng chưa cao, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, gây khó khăn cho việc tiếp thu khoa học kỹ thuật và chuyển đổi ngành nghề. Sự chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn còn lớn, các vấn đề xã hội như việc làm, giảm nghèo bền vững luôn là bài toán nan giải. Vượt qua những rào cản này đòi hỏi sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình và sự đồng lòng, chung sức của toàn thể nhân dân.

2.1. Xuất phát điểm thấp và cơ cấu kinh tế nông nghiệp lạc hậu

Một trong những thách thức lớn nhất là nền kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng quá lớn nhưng lại kém hiệu quả. Năm 2001, ngành nông - lâm - thủy sản chiếm tới 47,63% GDP của tỉnh. Sản xuất chủ yếu vẫn mang tính tự cung tự cấp, chưa hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn. Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất còn hạn chế, dẫn đến năng suất lao động thấp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm, các ngành công nghiệp và dịch vụ chưa đủ mạnh để thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp. Tài liệu nghiên cứu chỉ rõ: "Trong một số bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn mang nặng tư tưởng bảo thủ, trì trệ", đây là một rào cản vô hình nhưng tác động không nhỏ đến tốc độ đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng nông thôn.

2.2. Hạ tầng yếu kém và tác động tiêu cực của thiên tai

Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn Ninh Bình vào đầu những năm 2000 còn rất nhiều bất cập. Mạng lưới giao thông nông thôn phần lớn là đường đất, gây khó khăn cho việc đi lại và giao thương, đặc biệt vào mùa mưa. Hệ thống thủy lợi chưa hoàn chỉnh, vừa thiếu nước tưới cho mùa khô, vừa không đảm bảo tiêu úng hiệu quả vào mùa lũ. Điều này được nhấn mạnh trong tài liệu: "thường xảy ra hạn hán vào mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa, nhất là các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Yên Mô". Tình trạng thiếu điện, nước sạch, trường học và trạm y tế xuống cấp là thực trạng chung ở nhiều xã. Những yếu kém về hạ tầng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân mà còn kìm hãm sự phát triển sản xuất, làm gia tăng chi phí và rủi ro cho người nông dân.

III. Giải pháp đột phá Phát triển kinh tế nông thôn toàn diện

Để vượt qua thách thức, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, là khâu đột phá trong chương trình xây dựng nông thôn mới. Thay vì chỉ tập trung vào cây lúa, tỉnh đã triển khai một chiến lược phát triển kinh tế nông thôn toàn diện, đa ngành, đa lĩnh vực. Chủ trương này nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, từ vùng chiêm trũng đến vùng ven biển, miền núi. Các giải pháp chính bao gồm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có giá trị cao, đồng thời khôi phục và phát triển mạnh mẽ các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống. Việc kết hợp giữa nông nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ đã tạo ra chuỗi giá trị mới, không chỉ nâng cao thu nhập mà còn giải quyết hiệu quả vấn đề việc làm tại chỗ, góp phần thực hiện thành công mục tiêu giảm nghèo bền vững và thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn.

3.1. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa

Trọng tâm của giải pháp này là phá vỡ thế độc canh cây lúa, chuyển sang một nền nông nghiệp đa dạng và có giá trị thương mại cao. Tỉnh đã quy hoạch các vùng sản xuất chuyên canh, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất giống, canh tác và bảo quản sau thu hoạch. Các mô hình lúa chất lượng cao, lúa đặc sản ở Yên Khánh, Kim Sơn được nhân rộng. Đặc biệt, ngành thủy sản có bước phát triển vượt bậc, với sản lượng tăng từ 1.610 tấn năm 2000 lên hơn 21.000 tấn năm 2005. Các hình thức nuôi trồng tiên tiến như nuôi tôm sú công nghiệp ở vùng ven biển Kim Sơn, nuôi cá lồng bè trên sông đã mang lại hiệu quả kinh tế to lớn, làm thay đổi căn bản đời sống nhân dân vùng nông thôn. Đây là minh chứng rõ nét cho sự thành công của chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp.

3.2. Khôi phục làng nghề phát triển công nghiệp và dịch vụ

Nhận thấy vai trò quan trọng của phi nông nghiệp, Ninh Bình đã tập trung khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống. Các làng nghề nổi tiếng như đá mỹ nghệ Ninh Vân, thêu ren Văn Lâm, chiếu cói Kim Sơn được tạo điều kiện để mở rộng sản xuất, tìm kiếm thị trường. Các khu, cụm công nghiệp được hình thành đã thu hút hàng vạn lao động nông thôn, góp phần phân công lại lao động xã hội ngay trên địa bàn. Quyết định của UBND tỉnh “V/v phê duyệt quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Ninh Bình đến năm 2010” đã tạo cú hích mạnh mẽ cho lĩnh vực này. Song song đó, các ngành dịch vụ, thương mại cũng phát triển sôi động, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, tạo nên một cơ cấu kinh tế nông thôn năng động và bền vững hơn.

IV. Phương pháp xây dựng hạ tầng nâng cao đời sống văn hóa

Chương trình xây dựng nông thôn mới Ninh Bình xác định con người là trung tâm, do đó, bên cạnh phát triển kinh tế, việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và nâng cao đời sống văn hóa - xã hội được xem là hai trụ cột không thể tách rời. Phương pháp được áp dụng là huy động sức mạnh tổng hợp với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Nguồn lực từ ngân sách nhà nước đóng vai trò mồi, kích thích sự tham gia đóng góp của người dân và doanh nghiệp để hiện đại hóa hệ thống điện, đường, trường, trạm. Song song với đó, các phong trào văn hóa, thể dục thể thao, xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa được đẩy mạnh. Công tác giáo dục - đào tạo và chăm sóc sức khỏe ban đầu được đặc biệt quan tâm, nhằm nâng cao dân trí, cải thiện thể chất và làm phong phú đời sống tinh thần cho người dân. Cách tiếp cận toàn diện này đã tạo ra sự phát triển hài hòa, bền vững cho khu vực nông thôn.

4.1. Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm

Giai đoạn 2001-2005 chứng kiến sự thay đổi ngoạn mục của hạ tầng nông thôn Ninh Bình. Đến năm 2005, 100% số thôn trong tỉnh đã có điện lưới quốc gia. Tỉnh đã đầu tư cứng hóa 1.191 km đường giao thông nông thôn, đảm bảo 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm. Hệ thống thủy lợi được củng cố, nâng cấp, giúp chủ động hơn trong tưới tiêu, phòng chống thiên tai. Mạng lưới trường học được kiên cố hóa, với 100% xã có trường học cao tầng. Hệ thống trạm y tế xã, bưu điện văn hóa xã được xây dựng và mở rộng. Thành công này có được là nhờ sự vận dụng linh hoạt phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, khơi dậy được tinh thần tự lực, tự cường và trách nhiệm của cộng đồng trong việc xây dựng quê hương, làm thay đổi căn bản diện mạo làng quê.

4.2. Nâng cao đời sống tinh thần và giáo dục cho người dân

Xây dựng đời sống văn hóa mới là một nội dung quan trọng. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, đến năm 2005, toàn tỉnh có 63% gia đình được công nhận là gia đình văn hóa. Sự nghiệp giáo dục có nhiều tiến bộ, tỉnh được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS từ tháng 12/2002. Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân được tăng cường, mạng lưới y tế cơ sở được củng cố. Các chương trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm được thực hiện hiệu quả. Đặc biệt, cuộc vận động “xóa nhà tranh tre, vách đất” đã xây mới 1.791 nhà đại đoàn kết, hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm cho hộ nghèo. Những kết quả này cho thấy sự quan tâm sâu sắc của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đến việc nâng cao chất lượng sống toàn diện cho người dân.

V. Thành tựu xây dựng nông thôn mới Ninh Bình giai đoạn đầu

Sau 5 năm triển khai (2001-2005), chương trình xây dựng nông thôn mới Ninh Bình đã đạt được những thành tựu quan trọng và tương đối toàn diện, tạo ra bước chuyển biến rõ rệt trên nhiều lĩnh vực. Nền kinh tế của tỉnh thoát khỏi tình trạng trì trệ, đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng, cao hơn mức trung bình của cả nước. Đời sống nhân dân được cải thiện một cách thực chất, thu nhập bình quân đầu người tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh. Diện mạo nông thôn thay đổi từng ngày với hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng khang trang, hiện đại. Các giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Những thành quả này khẳng định chủ trương của Đảng là hoàn toàn đúng đắn và sự chỉ đạo, tổ chức thực hiện của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình là sáng tạo, hiệu quả, tạo nền tảng vững chắc để tiếp tục đẩy mạnh chương trình trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Tăng trưởng kinh tế ấn tượng và cải thiện thu nhập rõ rệt

Những con số biết nói đã chứng minh hiệu quả của chương trình. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2001-2005 đạt bình quân 11,96%/năm, cao hơn đáng kể so với mức 7,5%/năm của cả nước. Thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn năm 2004 đạt 348,3 nghìn đồng/tháng, gấp 6,5 lần so với năm 1991. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh chóng, từ 20,3% năm 1993 xuống còn 18,02% vào tháng 8 năm 2005 (theo tiêu chí mới). Sự phát triển kinh tế không chỉ thể hiện qua các chỉ số vĩ mô mà còn phản ánh trực tiếp vào việc cải thiện mức sống của từng hộ gia đình, với tỷ lệ nhà ở kiên cố và bán kiên cố đạt 92,3% vào năm 2004.

5.2. Thay đổi diện mạo nông thôn và đảm bảo an sinh xã hội

Bộ mặt xã hội nông thôn đã thực sự khởi sắc. Hệ thống đường làng, ngõ xóm được bê tông hóa, sạch sẽ và thuận tiện. Nhà cửa của người dân được xây dựng khang trang hơn, nhiều hộ đã sắm được các tiện nghi sinh hoạt đắt tiền như tivi màu, xe máy. An sinh xã hội được đảm bảo thông qua các chính sách hiệu quả về y tế, giáo dục và giải quyết việc làm. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở được củng cố, quốc phòng - an ninh được giữ vững, tạo môi trường ổn định cho phát triển. Những thành tựu này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền, tạo động lực to lớn cho công cuộc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2006-2010.

VI. Bài học kinh nghiệm từ xây dựng nông thôn mới Ninh Bình

Thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới Ninh Bình giai đoạn 2001-2010 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Trước hết, bài học về vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp là yếu tố then chốt, quyết định. Sự quyết tâm chính trị, tư duy đổi mới, dám nghĩ dám làm của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã biến những chủ trương của Trung ương thành hiện thực sinh động. Thứ hai, chương trình chỉ có thể thành công khi phát huy được vai trò chủ thể của người dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, huy động được sức mạnh đoàn kết toàn dân. Cuối cùng, bài học về cách tiếp cận toàn diện, lồng ghép hiệu quả các nguồn lực, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội và bảo vệ môi trường là chìa khóa cho sự phát triển bền vững. Những kinh nghiệm này vẫn còn nguyên giá trị cho công cuộc xây dựng và phát triển nông thôn hiện nay.

6.1. Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ và phát huy sức mạnh nhân dân

Thực tiễn tại Ninh Bình đã chứng minh, nơi nào cấp ủy Đảng, chính quyền quyết liệt, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo thì nơi đó phong trào đạt kết quả cao. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã làm tốt công tác quán triệt Nghị quyết, xây dựng chương trình hành động cụ thể và tổ chức thực hiện quyết liệt. Đồng thời, mọi chủ trương, chính sách đều được đưa ra bàn bạc công khai, dân chủ với người dân. Phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đã được vận dụng hiệu quả, đặc biệt trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng. Chính sự đồng thuận và tham gia tích cực của người dân đã tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn, là yếu tố quyết định sự thành công của chương trình.

6.2. Hướng đi tương lai Tích hợp phát triển kinh tế và bền vững văn hóa

Giai đoạn đầu thành công đã đặt ra yêu cầu cao hơn cho tương lai: phát triển phải đi đôi với bền vững. Bài học rút ra là chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt trong bối cảnh Ninh Bình có nhiều di sản thiên nhiên và văn hóa. Việc phát triển kinh tế từ các làng nghề, du lịch cần song hành với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo. Tương lai của chương trình xây dựng nông thôn mới không chỉ là những con số về tăng trưởng kinh tế mà còn là việc xây dựng một không gian sống nông thôn hài hòa, văn minh, giàu bản sắc và đáng sống, nơi đời sống nhân dân được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ đảng bộ tỉnh ninh bình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2001 đến năm 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa. Tháng 3/1989, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) khẳng định những chuyển biến quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, đồng thời bổ sung làm rõ thêm tư tưởng đổi mới, thể hiện ở ba quan điểm lớn: 1) Mọi tổ chức sản xuất kinh doanh do người lao động tự góp vốn, góp sức và quản lý theo nguyên tắc dân chủ, không phân biệt quy mô, trình độ kĩ thuật, mức độ tập thể hóa là hợp tác xã; 2) Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất là các đơn vị kinh tế hợp tác với nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất; 3) Gia đình xã viên đã trở thành đơn vị sản xuất kinh tế tự chủ, ngoài việc nhận khoán sử dụng ruộng đất, thực hiện các hợp đồng với hợp tác xã, còn chủ động phát triển sản xuất kinh doanh dưới nhiều hình thức, khuyến khích xã 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com viên làm giàu đồng thời có chính sách, biện pháp cụ thể để giúp các hộ nghèo có thêm điều kiện để vươn lên làm ăn tốt. Đại hội VII của Đảng (6/1991) khẳng định: “Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng NTM là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội. Xây dựng phương án tổng thể trên từng vùng, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý về nông - lâm - ngư - công nghiệp phù hợp với sinh thái vùng, bảo về tài nguyên, gắn phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp với phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến bằng công nghệ thích hợp, xây dựng các điểm kinh tế - kỹ thuật - dịch vụ ở từng vùng và tiểu vùng; xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội ở nông thôn” [22, tr,63].

Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được trong nông nghiệp, nông thôn, để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 6/1993) ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Hội nghị đánh giá trực tiếp thực trạng nông nghiệp, nông thôn, xác định mục tiêu, quan điểm đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn từ năm 1993 đến năm 2000, đồng thời đề ra phương hướng và giải pháp cụ thể để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, xây dựng NTM theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hội nghị xác định mục tiêu: Một là: Phát triển nhanh, vững chắc nông - lâm – ngư, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh để thu hút đại bộ phận lao động dư thừa, tăng năng suất lao động, giải quyết vững chắc nhu cầu lương thực, thực phẩm; đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu cho công nghiệp và tăng nhanh kim ngạnh xuất khẩu, bảo vệ môi trường sinh thái. Hai là: Cải thiện một bước đời sống văn hóa của nông dân, tăng diện giàu và đủ ăn, xóa đói, giảm nghèo.

23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ba là: Xây dựng NTM. Đồng thời qua đó đề ra phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội nông thôn một cách cụ thể, phù hợp. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 6/1993) đã xác định một hệ thống quan điểm đồng bộ về ba vấn đề lớn: nông nghiệp, nông thôn và nông dân, gắn phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng NTM với nâng cao đời sống của nông dân. Cũng trong giai đoạn này Nhà nước cũng ban hành luật đất xác định những quan điểm cơ bản của Đảng về vấn đề đất đai.

Các hộ tư nhân được đầu tư phát triển giống cây, khai thác đất trống đồi núi trọc ở các vùng trung du miền núi, bãi bồi ven biển, nuôi trồng và khai thác thủy sản, xây dựng các nông - lâm - ngư trại với quy mô thích hợp. Điều này chứng tỏ rằng, Nhà nước đã trao thêm cho các tổ chức kinh tế, cá nhân người lao động và hộ nông dân trách nhiệm và quyền tự chủ sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, trong đó có mô hình kinh tế phát triển theo xu hướng trang trại. Cùng với luật đất đai, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp được quốc hội thông qua (tháng 7/1993) có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế hộ gia đình, khuyến khích hộ gia đình sử dụng có hiệu quả đất đai và đảm bảo công bằng, hợp lý sự đóng góp của hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp và ngân sách của Nhà nước. Các đạo luật trên là cơ sở pháp lý rất quan trọng, tạo nền tảng cho kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển.

Tháng 7/1994, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ra Nghị quyết “Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới” [24, tr. Nghị quyết xác định ba chủ trương lớn về phát triển kinh tế công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong năm tới là: CNH, HĐH và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông - lâm - ngư 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 1996, trên cơ sở đánh giá tình hình 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bối cảnh trong nước và quốc tế đã xác định mục tiêu, nội dung của CNH và quyết tâm đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Đại hội cũng xác định rõ các nội dung và giải pháp lớn để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Như vậy, xây dựng và phát triển NTM ban đầu là công cuộc xây dựng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đảng ta có những bước chuyển đổi dần về nhận thức, tư tưởng và lãnh đạo, chỉ đạo. Từ sau năm 1975 đến nay đã trải qua nhiều sửa đổi nhưng vẫn thấy rõ được mặt trận nông nghiệp, phát triển nông thôn, nâng cao mức sống cho nông dân là một trong những mặt trận hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Ninh Bình (1992 - 2000) Nhận thức được rõ tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đồng thời thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp, các ngành bắt tay vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là thực hiện công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Ngay từ những năm đầu tái lập (1992), Ninh Bình có điều kiện để tập trung phát triển cho từng vùng, từng địa phương trong tỉnh. Chính vì vậy, sau những quyết sách hợp lý để xây dựng và phát triển nông thôn đã đưa nông nghiệp, nông thôn tỉnh nhà có những bước khởi sắc, đời sống nhân dân nâng cao về mọi mặt, diện mạo các vùng quê Ninh Bình ngày càng thay đổi lớn so với những năm còn là tỉnh Hà Nam Ninh. Về phát triển kinh tế nông nghiệp: 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đề ra nội dung cơ bản của CNH, HĐH là: “Phát triển toàn diện nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [25, tr.34- 35] trong đó coi trọng phát triển toàn diện nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa.Thực hiện những chủ trương của Đảng đồng thời với hơn 80% số lao động thuộc khu vực nông thôn, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xác định nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng trong xây dựng NTM. Sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo, nông nghiệp, nông thôn Ninh Bình đã đạt được những thành tựu quan trọng và tương đối toàn diện.

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn tỉnh giai đoạn 1992 - 1995 đạt bình quân 13,3%/ năm, giai đoạn 1996 - 2000 đạt 8,3%/ năm và giai đoạn 2001 - 2005 đạt 11,96%/năm, cao hơn so với với tốc độ tăng trưởng của cả nước (7,5%/ năm) trong cùng thời gian nói trên [4, tr. Trong nông nghiệp, kết quả nổi bật là sản xuất lương thực, từ chỗ thiếu lương thực triền miên, đến nay lương thực đủ ăn, có thể dùng cho chăn nuôi, tích lũy, lương thực hàng hóa ngày càng tăng, vấn đề an toàn lương thực được đảm bảo vững chắc. Từ chỗ nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp đến nay đã có bước chuyển biến tích cực, tỷ suất hàng hóa ngày càng cao, ngày càng nhiều sản phẩm là nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến phát triển, tạo ra những sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao. Ngành kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1993 đến 2000 đã khẳng định là một ngành có vị trí quan trọng hàng đầu trong toàn bộ nền kinh tế của tỉnh.

Năm 2001, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt hơn 1.369 tỉ đồng (giá so sánh năm 1994) so với năm 1995 tăng 33,9% và gấp 2,1 lần so với năm 1991. Bình 26 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quân mỗi năm trong 10 năm (1992 - 2001) giá trị sản xuất nông nghiệp ở tỉnh nhà đạt tốc độ tăng là 7,8% [4, tr. Trồng trọt vẫn là ngành sản xuất chính, giữ vị trí quan trọng trong toàn bộ sản xuất nông nghiệp. Diện tích cây lúa vẫn chủ yếu trong tổng diện tích gieo trồng hàng năm.

Diện tích cây công nghiệp hàng năm cũng thay đổi theo hướng tăng dần. Năm 1991 tỉ lệ diện tích cây công nghiệp chiếm 6,3%, năm 1995 chiếm 7,8% và đến năm 2000 đạt 8,9% [4, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ