Luận văn thạc sĩ ueh những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành tài chính ngân hàng của sinh viên đại học tôn đức thắng luận văn thạc sĩ

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành tài chính ngân hàng của sinh viên Đại học Tôn Đức Thắng.

Trường đại học

Đại Học Tôn Đức Thắng

Chuyên ngành

Tài Chính Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
125
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan đào tạo ngành tài chính ngân hàng Việt Nam

1.2. Tổng quan đào tạo ngành tài chính ngân hàng tại đại học Tôn Đức Thắng

1.3. Giới thiệu trường đại học Tôn Đức Thắng

1.4. Lịch sử hình thành ngành tài chính – ngân hàng đại học Tôn Đức Thắng

1.5. Đào tạo ngành tài chính ngân hàng tại đại học Tôn Đức Thắng

1.6. Vấn đề nghiên cứu

1.6.1. Lý do chọn đề tài

1.6.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.6.3. Đối tượng nghiên cứu

1.6.4. Phạm vi nghiên cứu

1.6.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6.6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.6.7. Cấu trúc luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở lý luận và các nghiên cứu liên quan

2.2. Quyết định chọn ngành học

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành học và các nghiên cứu liên quan

2.4. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết

2.4.1. Mô hình nghiên cứu

2.4.2. Giả thuyết nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Nghiên cứu định tính

3.3. Nghiên cứu sơ bộ

3.4. Nghiên cứu định lượng chính thức

3.4.1. Thiết kế bảng câu hỏi

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Mô tả mẫu

4.2. Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach alpha

4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4.4. Phân tích hồi quy binary logistic

4.5. Kiểm tra tác động của các yếu tố khác

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Gợi ý chính sách

5.2. Hướng phát triển

Phụ lục

Tóm tắt

I. Tổng quan về ngành tài chính ngân hàng và sinh viên đại học Tôn Đức Thắng

Ngành tài chính ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện đại. Tại Việt Nam, ngành này đang thu hút một lượng lớn sinh viên, đặc biệt là tại trường đại học Tôn Đức Thắng. Sự phát triển của ngành tài chính ngân hàng không chỉ mang lại cơ hội việc làm mà còn tạo ra những thách thức cho sinh viên trong việc lựa chọn ngành học phù hợp. Theo thống kê, số lượng sinh viên theo học ngành này ngày càng tăng, nhưng nhu cầu việc làm lại không tương xứng, dẫn đến tình trạng thất nghiệp hoặc làm trái ngành.

1.1. Ngành tài chính ngân hàng tại Việt Nam

Ngành tài chính ngân hàng là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế. Nó không chỉ cung cấp dịch vụ tài chính mà còn đóng góp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân. Theo số liệu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, số lượng sinh viên theo học ngành này đang gia tăng nhanh chóng, nhưng tỷ lệ thất nghiệp trong ngành cũng đang ở mức cao.

1.2. Đặc điểm sinh viên đại học Tôn Đức Thắng

Sinh viên đại học Tôn Đức Thắng có đặc điểm đa dạng về trình độ và năng lực. Họ thường có sự quan tâm lớn đến các cơ hội nghề nghiệp trong ngành tài chính ngân hàng. Tuy nhiên, nhiều sinh viên vẫn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp với chuyên ngành học của mình.

II. Những thách thức trong việc chọn ngành tài chính ngân hàng

Việc chọn ngành tài chính ngân hàng không chỉ đơn thuần là quyết định cá nhân mà còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên ngoài. Các thách thức này bao gồm sự cạnh tranh gay gắt trong thị trường lao động, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và yêu cầu ngày càng cao về kỹ năng từ nhà tuyển dụng.

2.1. Cạnh tranh trong thị trường lao động

Sự gia tăng số lượng sinh viên tốt nghiệp ngành tài chính ngân hàng dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt trong việc tìm kiếm việc làm. Nhiều sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm đúng chuyên ngành, dẫn đến tình trạng thất nghiệp hoặc làm trái ngành.

2.2. Yêu cầu về kỹ năng từ nhà tuyển dụng

Các nhà tuyển dụng hiện nay yêu cầu sinh viên không chỉ có kiến thức chuyên môn mà còn cần có kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm và khả năng thích ứng với công nghệ mới. Điều này tạo ra áp lực lớn cho sinh viên trong quá trình học tập và chuẩn bị cho sự nghiệp.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành tài chính ngân hàng

Nhiều yếu tố tác động đến quyết định chọn ngành tài chính ngân hàng của sinh viên, bao gồm cơ hội nghề nghiệp, sở thích cá nhân và ảnh hưởng từ gia đình và bạn bè. Những yếu tố này có thể tạo ra động lực mạnh mẽ hoặc cản trở sinh viên trong việc lựa chọn ngành học.

3.1. Cơ hội nghề nghiệp trong ngành tài chính ngân hàng

Cơ hội nghề nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành của sinh viên. Ngành tài chính ngân hàng cung cấp nhiều vị trí việc làm hấp dẫn với mức lương cao, nhưng cũng đòi hỏi sinh viên phải có kiến thức và kỹ năng phù hợp.

3.2. Sở thích cá nhân và ảnh hưởng từ gia đình

Sở thích cá nhân và sự định hướng từ gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc chọn ngành học. Nhiều sinh viên chọn ngành tài chính ngân hàng vì sự ảnh hưởng từ người thân hoặc bạn bè, trong khi một số khác lại dựa vào đam mê và sở thích cá nhân.

IV. Phương pháp nghiên cứu và kết quả khảo sát

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính và định lượng để khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành tài chính ngân hàng của sinh viên. Kết quả cho thấy rằng cảm nhận về cơ hội nghề nghiệp và tính thích thú có tác động mạnh nhất đến quyết định của sinh viên.

4.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu với giảng viên và sinh viên ngành tài chính ngân hàng. Phương pháp này giúp thu thập thông tin chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành.

4.2. Kết quả khảo sát định lượng

Kết quả khảo sát định lượng cho thấy rằng cảm nhận về cơ hội nghề nghiệp và tính thích thú là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành tài chính ngân hàng. Điều này cho thấy rằng sinh viên cần được cung cấp thông tin rõ ràng về cơ hội việc làm trong ngành.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng việc chọn ngành tài chính ngân hàng của sinh viên đại học Tôn Đức Thắng chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Để cải thiện tình hình, cần có sự điều chỉnh trong chương trình đào tạo và cung cấp thông tin về thị trường lao động.

5.1. Đề xuất cải thiện chương trình đào tạo

Để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, chương trình đào tạo ngành tài chính ngân hàng cần được cải thiện và cập nhật thường xuyên. Việc này sẽ giúp sinh viên có được kiến thức và kỹ năng cần thiết để thành công trong sự nghiệp.

5.2. Tương lai của ngành tài chính ngân hàng

Ngành tài chính ngân hàng sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai, nhưng cũng sẽ đối mặt với nhiều thách thức. Sinh viên cần chuẩn bị tốt để thích ứng với những thay đổi trong ngành và tìm kiếm cơ hội việc làm phù hợp.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành tài chính ngân hàng của sinh viên đại học tôn đức thắng luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về tình hình đào tạo ngành tài chính – ngân hàng và vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tóm lại Chương này đã giới thiệu tổng quan về tình hình đào tạo ngành tài chính - ngân hàng tại các trường đại học.

Thời gian qua, ngành tài chính - ngân hàng được xem là một ngành được nhiều thí sinh quan tâm và có chỉ tiêu khá cao. Tuy vậy, số lượng nguồn nhân lực ngành tài chính - ngân hàng hiện nay đang dư so với nhu cầu xã hội. Chính vì vậy, Bộ đã có những ý kiến chỉ đạo về việc đào tạo ngành tài chính - ngân hàng và các trường cũng cần có những chính sách điều chỉnh số lượng sinh viên ngành tài chính - ngân hàng sao cho phù hợp với tình hình kinh tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ hệ thống lý thuyết về quyết định chọn ngành và những yếu tố tác động đến việc chọn ngành học dựa vào các nghiên cứu trước để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu.

Cuối chương là mô hình nghiên cứu, đo lường các biến nghiên cứu, và giả thuyết nghiên cứu. Cơ sơ lý luận và các nghiên cứu liên quan 2. Quyết định chọn ngành học Quyết định chọn ngành học là một quá trình mà người học đã phải cân nhắc, tính toán để ra quyết định tối ưu, phù hợp với đặc tính cá nhân hay khả năng để đạt được mục tiêu nghề nghiệp trong tương lai. Quyết định này sẽ ảnh hưởng đến suốt cuộc đời của họ (Borchert, 2002, trang 11).

Quyết định chọn ngành học của phần lớn sinh viên xuất phát từ sớm, khoảng hai năm cuối của trung học phổ thông (Hunjra và cộng sự, 2010). Sinh viên sẽ nhận thức về tình kinh tế và xã hội và đặc tính riêng của họ để lập kế hoạch và hình dung những điều đạt được khi chọn một ngành cụ thể (Gul, 1986). Sinh viên chọn ngành mà họ thấy phù hợp với phong cách cá tính riêng của họ và sự cảm nhận về nghề nghiệp trong tương lai (Saemann và Crooker, 1999) Ở Việt Nam, sinh viên thường được nhà trường, gia đình, người thân tư vấn trong việc chọn trường, ngành học phù hợp với mục tiêu nghề nghiệp và năng lực trước khi chuẩn bị tốt nghiệp. Tuy nhiên, theo Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006, trang 40) cho rằng hầu hết sinh viên sẽ tự đưa ra quyết định ngành học của mình.

Tuy vậy, bằng các hình thức khác nhau, các quyết định này có thể bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài. Họ có thể chịu áp lực từ gia đình, thầy cô, bạn bè để lựa chọn nghề nghiệp cụ thể (Bradford, 2005). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Như vậy, quyết định chọn ngành học là quyết định để chọn một ngành nghề cho tương lai, quyết định này có thể do đặc tính cá nhân, cảm nhận của sinh viên, cơ hội nghề nghiệp, quyết định này còn có thể bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài như người thân trong gia đình, thầy cô, bạn bè và một số yếu tố khác. Các yếu tố ảnh hƣởng đến quyết định chọn ngành học và các nghiên cứu liên quan Khi lựa chọn nghề nghiệp, sinh viên có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố.

Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề nghiệp của học sinh, sinh viên gồm các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Các yếu tố bên trong Yếu tố bên trong còn gọi là động cơ bên trong. Đây là các yếu tố chủ quan bao gồm: đặc tính cá nhân, sự cảm nhận về nghề nghiệp. Thứ nhất, đặc tính cá nhân liên quan đến việc chọn ngành của sinh viên.

Đặc tính cá nhân hay tính cách của mỗi cá nhân là tính chất, đặc điểm nội tâm của mỗi con người, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ, lời nói và hành động của người đó. Nghiên cứu của Wolk và Cates (1994) đã kết luận rằng sinh viên ngành kế toán thì tính cách sáng tạo thấp hơn sinh viên ngành kinh doanh. Gul và Fong (1993) cũng nghiên cứu về đặc tính cá nhân của sinh viên trong việc chọn ngành. Kết quả nghiên cứu kết luận rằng sinh viên sống nội tâm là phù hợp hơn để chọn ngành kế toán vì họ thích làm việc trong một môi trường độc lập thay vì làm việc trong nhóm.

Để đo lường đặc tính cá nhân, Saemann và Crooker (1999) đã sử dụng 30 tính từ thể hiện đặc tính cá nhân như Bảng 2.1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Các đặc tính cá nhân STT Nhận + 1 điểm cho mỗi đặc tính STT Nhận - 1 điểm cho mỗi đặc tính 1 Khéo léo 19 Tầm thường* 2 Thân mật 20 Tục lệ* 3 Có óc sáng tạo 21 Thật thà* 4 Nguồn gốc 22 Thành thật* 5 Tháo vát 23 Có sự nghi ngờ* 6 Có khả năng 24 Bất mãn* 7 Tự tin 25 Lễ phép* 8 Khôi hài 26 Tự đắc* 9 Sáng suốt 27 Cẩn thận* 10 Tự tin 28 Bảo thủ* 11 Trưởng giả 29 Quyền lợi hẹp hòi* 12 Độc đáo 30 Dễ bảo* 13 Ích kỷ 14 Chủ nghĩa cá nhân 15 Thông minh 16 Nghi ngờ 17 Gợi cảm 18 Quan tâm rộng (* có điểm -1, còn lại +1). Nguồn: Saemann và Crooker (1999) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Sinh viên sẽ tự nhận xét mình có hoặc không có tính cách này. Đối với mỗi từ chọn có tính cách này, những từ có dấu sao (*) thì sẽ trừ 1, còn những từ không có dấu sao (*) sẽ cộng 1. Sau đó, tính tổng các điểm này.

Tổng cộng có 12 từ có dấu sao và 18 từ không có dấu sao nên tổng sẽ dao động trong khoảng từ - 12 đến + 18 điểm. Số điểm càng cao thì thể hiện một cá nhân có tính sáng tạo cao hơn. Cách sử dụng 30 tính từ thể hiện đặc tính cá nhân theo như Saemann và Crooker (1999) đã được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chọn ngành. Worthington và Higgs (2003) đã sử dụng 30 tính từ trên để nghiên cứu về mối liên quan giữa đặc tính cá nhân và việc chọn ngành tài chính của sinh viên tại trường đại học công nghệ Queensland ở Úc.

Tương tự, trong một nghiên cứu khác của Worthington và Higgs (2004) cũng đã sử dụng 30 tính từ trên để nghiên cứu về mối liên quan giữa đặc tính cá nhân và việc chọn ngành kinh tế của sinh viên tại trường đại học công nghệ Queensland ở Úc. Sugahara và cộng sự (2008) cũng sử dụng 30 tính từ trên trong nghiên cứu về đặc tính cá nhân của sinh viên học ngành kế toán tại Úc. Hunjra và cộng sự (2010) cũng sử dụng 30 tính từ trên trong nghiên cứu về đặc tính cá nhân của sinh viên học ngành tài chính. Thứ hai, về sự thích thú của sinh viên đối với ngành học, sinh viên thường có xu hướng đăng ký vào ngành mà họ cho rằng công việc ngành này có nhiều hứng thú.

Thích thú hay hứng thú có một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người. Nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào môi trường làm việc. Khi người lao động được làm việc mà họ thích thú thì dù phải khó khăn họ cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao. Trong học tập cũng như công việc, hứng thú có vai trò hết sức quan trọng và tỉ lệ thuận với kết quả học tập hoặc thành quả công việc.

Kim và cộng sự (2002) đã nghiên cứu khám phá về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành kinh doanh của sinh viên ở Mỹ và cho rằng nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc chọn chuyên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 ngành kinh doanh là tính thích thú trong nghề nghiệp. Uyar và cộng sự (2011) cũng đã nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn chuyên ngành kế toán của sinh viên đại học Turkish ở Thổ Nhĩ Kỳ. Tác giả đã khảo sát 179 sinh viên các ngành kế toán, ngoại thương, ngân hàng, quản trị, quản lý văn phòng ở trường đại học Turkish. Kết quả nghiên cứu của Uyar và cộng sự (2011) đã cho thấy: một trong các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc chọn ngành kế toán của sinh viên là tính thích thú trong lĩnh vực kế toán.

Saemann và Crooker (1999) đã tiến hành nghiên cứu sự cảm nhận về tính thích thú đối với ngành kế toán của sinh viên ở Mỹ. Tác giả đã sử dụng năm tính từ đối lập để làm biến đo lường trong đo lường cảm nhận tính thích thú đối với nghề nghiệp. Các biến này được đo lường bằng thang đo 5 mức đối lập được trình như Bảng 2. Kết quả cho thấy sự cảm nhận về tính thích thú của sinh viên là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định chọn ngành học của sinh viên.2: Các biến đo lường cảm nhận tính thích thú STT Mức thấp nhất Mức cao nhất 1 Nhàm chán 1 2 3 4 5 Thích thú 2 Buồn tẻ 1 2 3 4 5 Thú vị 3 Đơn điệu 1 2 3 4 5 Say mê 4 Bình thường 1 2 3 4 5 Uy tín 5 Tẻ nhạt 1 2 3 4 5 Hấp dẫn Nguồn: Saemann và Crooker (1999) Nhiều nghiên cứu khác đã sử dụng cách đo lường như Bảng 2.2 của Saemann và Crooker (1999) để nghiên cứu về tác động của tính thích thú đối với chọn ngành như: nghiên cứu của Worthington và Higgs (2003) và Worthington và Higgs (2004) để đo lường cảm nhận tính thích thú của sinh viên tại trường đại học công nghệ Queensland ở Úc trong việc chọn ngành tài chính và ngành kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Sugahara và cộng sự (2008) cũng đã sử dụng năm biến đo lường này để đo lường cảm nhận tính thích thú của sinh viên trong việc chọn ngành kế toán ở Úc. Bên cạnh đó, Hunjra và cộng sự (2010) đã sử dụng cách đo lường tương tự để khảo sát 300 sinh viên đang học chuyên ngành Tài chính tại trường đại học Islamabad ở Pakistan. Điểm khác biệt là tác giả chỉ sử dụng bốn biến đo lường để đo lường tính thích thú và tác giả không sử dụng biến “bình thường” vì cho rằng biến này không thể hiện rõ sự tác động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ