Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu và giải thích tầm quan trọng khi thực hiện đề tài nghiên cứu. Nội dung của chương bao gồm tóm lược lý do nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, đóng góp của đề tài, kết cấu của luận văn. Chương 2: Giới thiệu các khái niệm được sử dụng trong đề tài, trình bày khái quát một số lý thuyết tổng quan về HSSV, KNTN đúng hạn của HSSV. Phần tiếp theo sẽ dẫn chiếu cơ sở lý thuyết để từ đó xác định được các biến sẽ đưa vào mô hình nghiên cứu.
Phần cuối sẽ tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Chương 3: Xây dựng và phát triển mô hình kinh tế lượng. Phương pháp nghiên cứu, cách thức chọn mẫu và cách đo lường các biến nghiên cứu sẽ được trình bày chi tiết trong chương này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm và những phân tích từ kết quả nghiên cứu.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, các giả thiết nghiên cứu sẽ được chấp nhận hay bác bỏ. Chương 5: Kết luận, kiến nghị và những đóng góp quan trọng từ kết quả nghiên cứu. Các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm 2.1 Học sinh, sinh viên Khái niệm Hiện nay có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm học sinh, sinh viên: - Theo Hoàng Phê và cộng sự (2007), “học sinh” là người học ở bậc phổ thông, trung học; còn “sinh viên” là người học ở bậc cao đẳng, đại học.
Với cách diễn đạt này, nhóm tác giả tiếp cận khái niệm “học sinh” với nghĩa là tên gọi chung của những người học ở bậc phổ thông, trung học còn “sinh viên” là tên gọi chung của những người học ở bậc cao đẳng, đại học. Với cách tiếp cận này, nhóm tác giả chưa làm rõ được nội hàm của khái niệm “học sinh” và “sinh viên”. - Theo Nguyễn Hồng Ánh (2002), sinh viên là “một bộ phận của thanh niên đang theo học ở các trường đại học và cao đẳng. Họ là một nhóm xã hội đặc thù, đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện nhân cách, tích cực học tập, rèn luyện chuẩn bị gia nhập đội ngũ trí thức, lao động kỹ thuật cao của đất nước.
Trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, thanh niên sinh viên luôn là lực lượng năng động, sáng tạo và là nguồn nhân lực được đào tạo có trình độ cao của xã hội. Sinh viên là lực lượng kế tiếp, bổ sung cho đội ngũ trí thức tương lai. Họ là lớp người có văn hóa cao và có nhiều điều kiện đón nhận những thông tin về tư tưởng, khoa học kỹ thuật, văn hóa và được tập trung ở những trung tâm kinh tế văn hóa xã hội của địa phương (Nguyễn Văn Đức, 2016). Với khái niệm này, tác giả Nguyễn Hồng Ánh (2002) cũng đồng quan điểm với Hoàng Phê và cộng sự (2007) khi cho rằng sinh viên là “một bộ phận của thanh niên đang theo học ở các trường đại học và cao đẳng”, nhưng cái khác trong khái niệm về sinh viên của tác giả Nguyễn Hồng Ánh đã làm rõ hơn nội hàm của khái niệm sinh viên “họ là một nhóm xã hội đặc thù, đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện nhân cách, tích cực học tập, rèn luyện chuẩn bị gia nhập đội ngũ trí thức, lao động kỹ thuật cao của đất nước”.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Từ những phân tích trên, đề tài thống nhất sử dụng thuật ngữ “học sinh, sinh viên” trong quá trình trình bày các nội dung của đề tài với ý nghĩa là tên gọi của những người đang học ở bậc đào tạo nghề, trung cấp, cao đẳng và đại học, không bao gồm những người đang học ở bậc học phổ thông. Đặc điểm của HSSV HSSV là những người có hoài bão, có ước mơ: Nghề nghiệp tương lai trở thành niềm mong ước, sự kỳ vọng, lý tưởng, động cơ, mục đích cơ bản nhất, quan trọng nhất trong cuộc sống và mọi hoạt động của sinh viên (Nguyễn Hồng Ánh, 2002). HSSV là những người có cơ hội để thành công trong xã hội, do tính chất của hoạt động nghề nghiệp trong tương lai, họ là những người có nhiều cơ hội thuận lợi hơn để chiếm những vị trí cao trong xã hội, nhất là trong nền kinh tế tri thức (Phạm Tất Thắng, 2009). HSSV là những người có khả năng thích ứng cao, tiếp thu nhanh các giá trị mới.
Phần lớn HSSV là những người trẻ tuổi, có sức khỏe tốt, thích học hỏi, khám phá, tìm hiểu những cái mới nên dễ dàng thích nghi với các môi trường, điều kiện mới, dễ dàng tiếp thu những giá trị mới trong cuộc sống (Phạm Tất Thắng, 2009).2 Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn Khái niệm HSSV có hoàn cảnh khó khăn: Là những người đang theo học tại các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Nhưng vì một lý do nào đó, họ không có đủ nguồn tài chính để chi trả các chi phí cơ bản cho quá trình học tập như học phí, sinh hoạt phí, tiền mua tài liệu,. Theo Nguyễn Văn Đức (2016) đặc điểm HSSV có hoàn cảnh khó khăn là một bộ phận của HSSV nói chung. Tuy nhiên, do xuất phát từ các hộ gia đình nghèo, bị hạn chế nguồn lực tài chính đã hình thành một số đặc điểm riêng của nhóm HSSV này, cụ thể: - Hạn chế về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc so với những HSSV khác: Do bị hạn chế về nguồn lực tài chính nên HSSV có hoàn cảnh khó khăn không có nhiều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cơ hội tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn nhằm trang bị, bổ sung các kỹ năng làm việc, kỹ năng mềm cần thiết cho bản thân và công việc sau này.
- Thường có ít bạn bè hơn những HSSV khác: Do gặp khó khăn về tài chính nên những HSSV có hoàn cảnh khó khăn thường sống thu mình, ít giao tiếp với các bạn cùng trang lứa, cùng lớp, cùng trường vì họ biết khi mở rộng các mối quan hệ, kết bạn với nhiều người sẽ làm phát sinh nhiều chi phí. Chính điều này làm cho những HSSV có hoàn cảnh khó khăn thường có ít bạn để cùng nhau trao đổi trong học tập và chia sẻ trong cuộc sống. - Lo sợ phải bỏ học giữa chừng: Những HSSV có hoàn cảnh khó khăn luôn thấy lo lắng, bất an vì họ sợ đến một lúc nào đó họ sẽ không có đủ tiền để thanh toán học phí, sinh hoạt phí,. và sẽ phải bỏ dở việc học hành, từ bỏ những ước mơ, hoài bão của mình.3 Cho vay học sinh, sinh viên Theo Nguyễn Văn Đức (2016), cho vay HSSV là hình thức cho vay tiêu dùng, theo đó các tổ chức tín dụng (TCTD) cấp cho HSSV một khoản tiền nhất định trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định, nhằm hỗ trợ HSSV có thêm nguồn tài chính để đóng học phí, chỉ trả các khoản sinh hoạt phí, tiền mua tài liệu trong quá trình học tập.
Như vậy, về nguyên tắc hoạt động, HSSV vay vốn cũng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích và hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn quy định. Tại Việt Nam, chương trình cho vay đối với HSSV có hoàn cảnh khó khăn được NHCSXH triển khai theo Quyết định 157. Lãi suất và hạn mức cho vay HSSV Lãi suất cho vay chương trình tín dụng HSSV theo Quyết định 157 đã được Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh nhiều lần, đảm bảo phù hợp và thấp nhất so với lãi suất cho vay thương mại thể hiện ở bảng 2.1: Lãi suất cho vay HSSV điều chỉnh qua các giai đoạn STT Giai đoạn Lãi suất Căn cứ 1 01/10/2007 - 31/7/2011 0,5%/tháng Quyết định 157/2007/QĐ- TTg, ngày 27/9/2007 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 STT Giai đoạn Lãi suất Căn cứ 2 01/8/2011 - 05/6/2014 0,65%/tháng Quyết định 853/QĐ-TTg, ngày 03/6/2011 3 06/6/2014 - 04/6/2015 0,6%/tháng Quyết định 872/QĐ-TTg, ngày 06/6/2014 4 Từ ngày 05/6/2015 đến 0,55%/tháng Quyết định 750/QĐ-TTg, thời điểm nghiên cứu ngày 01/6/2015 Hạn mức cho vay tối đa của chương trình tín dụng HSSV theo Quyết định 157 từ khi triển khai đến nay cũng đã được Thủ tướng Chính phủ quan tâm điều chỉnh nhiều lần nhằm đảm bảo cho HSSV có chi phí tối thiểu phục vụ học tập thể hiện trong bảng 2.2: Hạn mức cho vay HSSV điều chỉnh qua các giai đoạn STT Giai đoạn Hạn mức tối đa Căn cứ 1 01/10/2007 - 25/8/2009 800.000 Quyết định 157/2007/QĐ- đồng/tháng/HSSV TTg, ngày 27/9/2007 2 26/8/2009 - 31/7/2011 860.000 Quyết định 1344/QĐ-TTg, đồng/tháng/HSSV ngày 26/8/2009 3 01/8/2011 - 31/7/2013 1.000 Quyết định 853/QĐ-TTg, đồng/tháng/HSSV ngày 03/6/2011 4 01/8/2013 – 08/01/2016 1.000 Quyết định 1196/QĐ-TTg, đồng/tháng/HSSV ngày 19/7/2013 5 09/01/2016 – 14/6/2017 1.000 Quyết định 07/QĐ-TTg, đồng/tháng/HSSV ngày 05/01/2016 6 Từ ngày 15/6/2017 đến 1.000 Quyết định 751/QĐ-TTg, thời điểm nghiên cứu đồng/tháng/HSSV ngày 30/5/2017 2.4 Khả năng trả nợ vay của khách hàng Hiện tại chưa có khái niệm thống nhất về KNTN vay của khách hàng mà chỉ tập trung vào biểu hiện của khách hàng được đánh giá là không có KNTN vay (hoặc “vỡ nợ”, “mất KNTN”, “xác suất không trả nợ cao”). Biểu hiện của khách hàng không có KNTN vay theo Basel là “default - không có KNTN vay”.
Như vậy, có thể hiểu ngoài những khách hàng không có KNTN vay những khách hàng còn lại là có KNTN vay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Trong tài liệu Basel Committee on Banking Supervison (2006), Ủy ban Basel cho rằng “default – không có KNTN vay” là những khách hàng có một hoặc cả hai biểu hiện sau: - Ngân hàng nhận thấy rằng khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ khi đến hạn, chưa tính đến việc ngân hàng bán tài sản (nếu có) để thu hồi nợ; - Khách hàng có các khoản nợ vay đã quá hạn trên 90 ngày. Tại Việt Nam, chỉ có quy định về nợ xấu là nợ được các TCTD đánh giá là không có KNTN. Cụ thể, theo Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18 tháng 3 năm 2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu bao gồm các khoản nợ từ nhóm 3 cho đến nhóm 5, là các khoản nợ bị đánh giá có khả năng mất một phần vốn và lãi (nợ nhóm 3), có khả năng tổn thất cao (nợ nhóm 4) và không còn khả năng thu hồi (nợ nhóm 5).
Nợ nhóm 2 được cho là suy giảm KNTN, đây chỉ là những khoản vay cần chú ý, khách hàng vẫn còn khả năng thanh toán nợ.