Tổng quan nghiên cứu
Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) hiện chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, đóng góp khoảng 45% GDP và tạo ra hơn 50% việc làm cho toàn xã hội. Tại trung tâm kinh tế TP. Hồ Chí Minh, nơi tập trung hơn 30% số lượng DNVVN cả nước, việc xây dựng và vận hành hệ thống thông tin tài chính minh bạch là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn và phát triển bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 29 (VAS 29 ban hành năm 2005) và Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 21 (VAS 21 ban hành năm 2003) cho thấy sự lựa chọn chính sách kế toán (CSKT) của khối doanh nghiệp này đang bị chi phối nặng nề bởi các quy định thuế thay vì mục tiêu phản ánh trung thực và hợp lý.
Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý, chủ sở hữu với các bên liên quan bên ngoài (như ngân hàng, cơ quan thuế, nhà đầu tư) đang làm suy giảm nghiêm trọng độ tin cậy của Báo cáo tài chính (BCTC). Nhằm giải quyết thực trạng này, luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán của tác giả Nguyễn Hồng Hà (Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, năm 2015, hướng dẫn khoa học bởi PGS. Mai Thị Hoàng Minh) tập trung nghiên cứu: "Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh hiện nay".
Mục tiêu cụ thể của công trình gồm:
- Xác định và đo lường mức độ tác động của từng nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn CSKT của DNVVN tại TP. Hồ Chí Minh.
- Xây dựng mô hình hồi quy định lượng kiểm định mối quan hệ giữa các biến đo lường với sự lựa chọn CSKT trong giai đoạn khảo sát 2013-2014.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị thực tiễn nhằm hoàn thiện khung CSKT, hỗ trợ hơn 80% DNVVN trên địa bàn chuẩn hóa công tác lập BCTC theo Thông tư 200/2014/TT-BTC.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết kinh tế và kế toán hiện đại để lý giải hành vi lựa chọn chính sách của doanh nghiệp:
- Lý thuyết ủy nhiệm (Agency Theory) của Jensen và Meckling (1976): Giải thích hai tầng mâu thuẫn lợi ích cơ bản. Mâu thuẫn đại diện bên trong xuất hiện giữa chủ sở hữu và người điều hành khi nhà quản lý có xu hướng can thiệp vào CSKT để tối đa hóa thu nhập hoặc tiền thưởng. Mâu thuẫn đại diện bên ngoài diễn ra giữa doanh nghiệp với chủ nợ và cơ quan nhà nước, thúc đẩy doanh nghiệp lựa chọn CSKT để làm đẹp BCTC nhằm vay vốn hoặc giảm thiểu nghĩa vụ thuế.
- Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive Accounting Theory) của Watts và Zimmerman (1990) kết hợp bổ sung của Colin Dey cùng các cộng sự (2007): Vận dụng 4 giả thuyết kinh điển gồm giả thuyết kế hoạch tiền thưởng, giả thuyết nợ trên vốn chủ sở hữu, giả thuyết chi phí chính trị và giả thuyết thuế để giải thích động cơ lựa chọn phương pháp kế toán.
- Ba nhóm mục tiêu CSKT theo mô hình của Mariana Gurău (2014): Phân loại định hướng CSKT của doanh nghiệp thành tối đa hóa lợi nhuận kỳ báo cáo, bảo toàn vốn đảm bảo xu hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn, và tuân thủ tối ưu luật thuế hiện hành.
- Tiêu chí định danh DNVVN theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP: Xác định quy mô doanh nghiệp trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản và công nghiệp xây dựng có vốn dưới 100 tỷ đồng hoặc dưới 300 lao động; lĩnh vực thương mại - dịch vụ có vốn dưới 50 tỷ đồng hoặc dưới 100 lao động.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai theo thiết kế hỗn hợp khám phá (Exploratory Mixed Methods) kết hợp chặt chẽ giữa hai giai đoạn:
- Nghiên cứu định tính: Tiến hành tổng quan các công trình quốc tế (Watts và Zimmerman 1990, Christos Tzovas 2006, Szilveszter Fekete 2010) và nghiên cứu trong nước, kết hợp phỏng vấn sâu 6 chuyên gia đầu ngành (gồm kiểm toán viên hành nghề, kế toán trưởng và giảng viên đại học) theo phương pháp chọn mẫu quả bóng tuyết (snowball sampling). Giai đoạn này hoàn thiện bộ thang đo gồm 20 biến độc lập thuộc 6 nhóm nhân tố và 3 biến phụ thuộc đo lường sự lựa chọn CSKT.
- Nghiên cứu định lượng: Thực hiện khảo sát thực tế đối với kế toán viên và kiểm toán viên phụ trách DNVVN tại TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2013-2014 bằng phương pháp chọn mẫu phán đoán phi xác suất. Tổng số 300 bảng hỏi được phát ra trực tiếp và qua biểu mẫu trực tuyến, thu về 264 phiếu phản hồi. Sau khi sàng lọc và loại bỏ 102 phiếu không hợp lệ (do thiếu thông tin, sai đối tượng), mẫu nghiên cứu chính thức đạt 162 quan sát hợp lệ (đáp ứng tiêu chuẩn kích thước mẫu tối thiểu theo Hair 2010 là tỷ lệ 5:1 trên 23 biến quan sát).
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 20 để phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (ngưỡng chấp nhận từ 0.60 trở lên và hệ số tương quan biến - tổng hiệu chỉnh từ 0.30 trở lên), phân tích nhân tố khám phá EFA (với phép trích Principal Components, phép quay Varimax, chỉ số KMO từ 0.50 đến 1.0, kiểm định Bartlett có Sig < 0.05 và tổng phương sai trích từ 50% trở lên), phân tích hồi quy tuyến tính bội (MLR), kiểm định F trong ANOVA, kiểm định phương sai sai số thay đổi Spearman, kiểm định phân phối chuẩn phần dư qua biểu đồ Histogram và kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai VIF dưới 10.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả phân tích từ dữ liệu định tính và định lượng mang lại những phát hiện quan trọng về mức độ tác động của các nhân tố đến việc lựa chọn CSKT của DNVVN tại TP. Hồ Chí Minh:
- Sự đồng thuận tuyệt đối về mục tiêu thuế: Trong khảo sát chuyên gia, 100% chuyên gia (6/6 người) đồng ý việc lựa chọn CSKT bị chi phối bởi mục tiêu phù hợp với quy định của luật thuế (biến Q21c), trong khi tỷ lệ đồng thuận cho mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận (Q21a) và bảo toàn vốn dài hạn (Q21b) đạt 66.67% (4/6 người).
- Nhóm nhân tố tác động rất mạnh (Điểm trung bình Likert từ 4.21 đến 5.00):
- Nguyên tắc phản ánh trung thực và hợp lý của BCTC (biến Q20) đạt mức điểm cao nhất là 4.50/5.00, phản ánh kỳ vọng chuẩn mực cao nhất của giới chuyên môn.
- Quy định và yêu cầu thông tin riêng biệt của cổ đông, chủ sở hữu (biến Q4) đạt 4.33/5.00 (với 66.67% đánh giá tác động mạnh và 33.33% đánh giá rất mạnh).
- Nhóm nhân tố tác động mạnh (Điểm trung bình Likert từ 3.41 đến 4.20):
- Tối thiểu hóa chi phí tài chính và thu nhập của chủ sở hữu (biến Q8) đạt 4.17/5.00 (83.33% chuyên gia đánh giá tác động mạnh).
- Tối thiểu hóa thuế TNDN (biến Q6) và sự chấp thuận của thanh tra thuế (biến Q12) đều đạt mức 4.00/5.00.
- Tận dụng tối đa ưu đãi về thuế (biến Q14) và yêu cầu thông tin của nhà quản lý (biến Q3) cùng đạt mức 3.83/5.00.
- Phản ánh đặc điểm nguồn lực doanh nghiệp (biến Q19) và thông tin xin hỗ trợ chính sách tháo gỡ khó khăn (biến Q16) đều đạt 3.67/5.00.
- Nhóm nhân tố tác động yếu nhất (Điểm trung bình Likert dưới 3.00):
- Thông tin về CSKT của công ty đối thủ (biến Q9) chỉ đạt 2.67/5.00 (33.33% đánh giá yếu, 66.67% đánh giá bình thường).
- Truyền thống kế toán và sự e ngại thay đổi (biến Q18) đạt 2.83/5.00.
Thảo luận kết quả
Thực tiễn nghiên cứu chỉ ra rằng hành vi kế toán của DNVVN tại TP. Hồ Chí Minh chịu sự chi phối mang tính áp đảo từ chính sách thuế và yêu cầu quản trị dòng tiền của chủ sở hữu. Do phần lớn DNVVN có nguồn vốn hạn hẹp (dưới 50-100 tỷ đồng) và sở hữu gia đình hoặc tư nhân, người quản lý thường đồng thời là chủ sở hữu. Điều này triệt tiêu động lực tách biệt báo cáo tài chính độc lập, dẫn đến hiện tượng phổ biến là tồn tại song song hai hệ thống sổ sách kế toán (sổ sách nội bộ và sổ sách phục vụ cơ quan thuế).
Vào cuối niên độ tài chính, hiện tượng "chạy số liệu" để điều chỉnh chi phí trích trước, phân bổ chi phí trả trước và hợp lý hóa hóa đơn nhằm hạ thấp thu nhập chịu thuế diễn ra thường xuyên. Thuyết minh BCTC tại các DNVVN được lập rất sơ sài, sao chép rập khuôn mẫu biểu quy định mà không giải trình chi tiết các phương pháp tính giá hàng tồn kho (như nhập trước xuất trước FIFO, bình quân gia quyền) hay phương pháp trích khấu hao tài sản cố định.
Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các phát hiện của Christos Tzovas (2006) tại Hy Lạp và Szilveszter Fekete (2010) tại Rumani, khẳng định rằng khi kế toán tài chính và kế toán thuế bị ràng buộc cơ học, mục tiêu tối thiểu hóa thuế sẽ lấn át nguyên tắc trình bày trung thực.
Dữ liệu phân tích hồi quy được củng cố vững chắc khi biểu diễn qua biểu đồ Histogram phân phối chuẩn phần dư với giá trị trung bình Mean xấp xỉ 0 và độ lệch chuẩn Std.Dev xấp xỉ 1, đi kèm bảng ma trận xoay nhân tố Varimax chứng minh tính hội tụ của 6 nhóm biến giải thích mà không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số VIF đều nhỏ hơn 10).
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị hành động đồng bộ:
-
Doanh nghiệp vừa và nhỏ:
- Hành động: Thiết lập quy chế xây dựng CSKT độc lập ngay từ đầu năm tài chính, chấm dứt triệt để việc duy trì hai hệ thống sổ sách kế toán đối phó.
- Chỉ số mục tiêu: Nâng cao 100% tính minh bạch của phần thuyết minh BCTC, giải trình rõ ràng các ước tính kế toán và phương pháp định giá tài sản.
- Lộ trình: Thực hiện chuẩn hóa trong vòng 12 tháng kể từ niên độ tài chính tiếp theo.
- Chủ thể: Ban giám đốc và Kế toán trưởng DNVVN.
-
Bộ Tài chính và cơ quan xây dựng chính sách:
- Hành động: Hoàn thiện chế độ kế toán chuyên biệt cho DNVVN theo hướng đơn giản hóa, linh hoạt nhưng tiệm cận Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS for SMEs), đồng thời ban hành các thông tư sửa đổi Thông tư 200/2014/TT-BTC.
- Chỉ số mục tiêu: Giảm thiểu 30% các điểm xung đột và khác biệt kỹ thuật không cần thiết giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế TNDN.
- Lộ trình: Giai đoạn 2016-2020.
- Chủ thể: Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán, Tổng cục Thuế.
-
Cơ quan Thuế các cấp:
- Hành động: Đổi mới tư duy thanh tra, kiểm tra thuế dựa trên nguyên tắc bản chất kinh tế quan trọng hơn hình thức pháp lý, tôn trọng các ước tính kế toán hợp lý của doanh nghiệp.
- Chỉ số mục tiêu: Đạt tỷ lệ trên 85% DNVVN được tiếp cận và áp dụng chính xác các gói chính sách ưu đãi thuế hợp pháp mà không phát sinh rủi ro phạt hành chính.
- Lộ trình: Triển khai thường xuyên trong giai đoạn 1-2 năm tới.
- Chủ thể: Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh và các Chi cục Thuế trực thuộc.
-
Các tổ chức nghề nghiệp và công ty kiểm toán độc lập:
- Hành động: Tăng cường tư vấn và tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu về kỹ năng phân tích, xây dựng CSKT phù hợp với từng mô hình kinh doanh đặc thù.
- Chỉ số mục tiêu: Tổ chức định kỳ 10-15 khóa đào tạo chuyên đề mỗi năm, chuẩn hóa kiến thức cho hơn 1.000 nhân viên kế toán DNVVN trên địa bàn thành phố.
- Lộ trình: Thực hiện liên tục hàng năm.
- Chủ thể: Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), các hiệp hội doanh nghiệp và công ty kiểm toán.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu cung cấp giá trị học thuật và ứng dụng chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
- Kế toán trưởng và nhân viên kế toán tại các DNVVN: Tài liệu cung cấp góc nhìn toàn diện về phương pháp luận thiết lập CSKT khoa học, giúp kế toán viên chủ động tham mưu cho ban lãnh đạo các chính sách kế toán tối ưu, hài hòa giữa tối ưu chi phí thuế hợp pháp và nâng cao chất lượng lập BCTC theo quy định.
- Chủ doanh nghiệp và nhà quản trị điều hành DNVVN: Giúp các nhà quản lý nhận thức rõ mối liên hệ giữa sự minh bạch của BCTC với khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng, hạn chế các rủi ro pháp lý về thuế, đồng thời loại bỏ tư duy quản trị lợi nhuận ngắn hạn gây tổn hại uy tín thương mại.
- Chuyên viên tín dụng ngân hàng và chuyên gia phân tích tài chính: Cung cấp khung đánh giá thực nghiệm để thẩm định mức độ tin cậy của các khoản mục trên BCTC do DNVVN cung cấp, nhận diện các thủ thuật "chạy số liệu" nhằm đưa ra quyết định cấp tín dụng hoặc đầu tư chính xác với tỷ lệ an toàn cao.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Kế toán - Kiểm toán: Nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu hỗn hợp khám phá (Exploratory Mixed Methods), quy trình kiểm định thang đo EFA - hồi quy đa biến MLR bằng SPSS, và kinh nghiệm ứng dụng Lý thuyết ủy nhiệm tại thị trường mới nổi như Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
-
Chính sách kế toán trong DNVVN bao gồm những nội dung trọng yếu nào? Theo VAS 29 (2005), CSKT là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng nhất quán để lập và trình bày BCTC. Đối với DNVVN, các chính sách trọng yếu bao gồm: phương pháp tính giá hàng tồn kho (FIFO, bình quân gia quyền), phương pháp trích khấu hao tài sản cố định (đường thẳng, số dư giảm dần), nguyên tắc ghi nhận doanh thu và lập dự phòng nợ phải thu khó đòi.
-
Tại sao yếu tố thuế lại chi phối mạnh nhất đến sự lựa chọn CSKT của DNVVN tại TP. Hồ Chí Minh? Kết quả khảo sát cho thấy 100% chuyên gia khẳng định sự tác động của yếu tố thuế (điểm trung bình 4.00/5.00 đối với tối thiểu hóa thuế TNDN và sự chấp thuận của thanh tra thuế). Nguyên nhân do DNVVN phần lớn thuộc sở hữu tư nhân, nguồn vốn mỏng nên ưu tiên hàng đầu của chủ doanh nghiệp là giảm thiểu dòng tiền thuế thực nộp hơn là lập BCTC phục vụ công chúng.
-
Thực trạng lập Thuyết minh Báo cáo tài chính tại các DNVVN hiện nay ra sao? Thực tế tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy Thuyết minh BCTC của các DNVVN thường được trình bày rất sơ sài, thiếu tính linh hoạt và chủ yếu sao chép nguyên văn mẫu biểu quy định. Đa số doanh nghiệp bỏ qua việc giải trình các chính sách về phân bổ chi phí trả trước, trích trước chi phí hoặc tự nguyện công bố tác động của việc thay đổi CSKT đến số liệu tài chính.
-
Cỡ mẫu 162 quan sát có đảm bảo độ tin cậy khoa học cho phân tích hồi quy không? Theo tiêu chuẩn của Hair (2010) và Tabachnick & Fidell (2007), cỡ mẫu tối thiểu cho phân tích EFA và hồi quy bội với 23 biến quan sát dao động từ 115 đến 160 mẫu. Mẫu 162 phiếu hợp lệ được chọn lọc kỹ lưỡng từ 264 phiếu thu về tại TP. Hồ Chí Minh hoàn toàn thỏa mãn các điều kiện kiểm định thống kê với độ tin cậy trên 95%.
-
Lý thuyết ủy nhiệm giải thích mâu thuẫn lựa chọn CSKT trong DNVVN như thế nào? Lý thuyết ủy nhiệm của Jensen và Meckling (1976) chỉ ra rằng DNVVN chịu áp lực từ mâu thuẫn bên ngoài: doanh nghiệp muốn lập BCTC đẹp để chứng minh khả năng trả nợ khi vay vốn ngân hàng, nhưng đồng thời lại muốn báo cáo lợi nhuận thấp để giảm thiểu số thuế phải nộp cho nhà nước, tạo ra sự xung đột trong việc lựa chọn CSKT.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về CSKT và vận dụng thành công Lý thuyết ủy nhiệm, Lý thuyết kế toán thực chứng vào bối cảnh DNVVN tại Việt Nam.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm giá trị cao với bộ dữ liệu khảo sát 162 kế toán viên, kiểm toán viên và 6 chuyên gia đầu ngành tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Đo lường chính xác mức độ tác động của các nhóm nhân tố, chỉ ra vai trò then chốt của nguyên tắc trung thực hợp lý (4.50/5.00), yêu cầu của chủ sở hữu (4.33/5.00) và áp lực từ chính sách thuế (4.00/5.00).
- Nhận diện rõ nét thực trạng tồn tại song song hai hệ thống sổ sách và hiện tượng điều chỉnh lợi nhuận cuối năm tại các doanh nghiệp nhỏ.
- Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi với lộ trình cụ thể từ năm 2016 nhằm hoàn thiện công tác kế toán theo Thông tư 200/2014/TT-BTC.
Đóng góp lớn nhất của công trình là việc bổ sung lỗ hổng nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về CSKT thuộc chuyên ngành kế toán tại Việt Nam, mở ra hướng tiếp cận khoa học cho các nhà quản lý doanh nghiệp. Trong giai đoạn tiếp theo, các nghiên cứu cần mở rộng phạm vi khảo sát sang các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và đánh giá tác động khi Việt Nam áp dụng chuẩn mực IFRS. Hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để nắm vững phương pháp luận và chuẩn hóa hệ thống báo cáo tài chính cho doanh nghiệp của bạn ngay hôm nay!