CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN NGHIÊN cứu 1.1 Tổng quan về các nghiên cứu nước ngoài Trải qua thời gian nghiên cứu và tìm hiểu, đến thời điểm hiện tại TG đã có những nhận định riêng về vấn đề các công trình nghiên cứu mang tính trực diện liên quan tới việc áp dụng công tác KTQT diễn ra tại những trường học ở nước ngoài vẫn còn rất ít. Đây là lý do ở phần này TG đã đề cập tới một vài công trình nghiên cứu có nội dung liên quan tới việc áp dụng công tác KTQT dựa trên nhiều góc độ nhận định khác nhau, có thể kể tới như: 1.1 Các nghiên cứu về sự cần thiết và lợi ích khi vận dụng KTQT Reich & Abraham (2006) được biết tới như hai TG đã thể hiện nội dung của phưong pháp phi truyền thống, bắt nguồn từ hoạt động lấy thông tin ở các trường đại học úc nhằm mục tiêu biết được một cách chi tiết những khoản chi phí và hoàn thành việc áp dụng công tác KTQT thông qua sử dụng mô hình ABC. Dựa vào hình thức khảo sát và phỏng vấn trực tiếp những nhân viên đang làm việc tại các trường đại học ở úc về phưong pháp lấy thông tin từ các hoạt động của nhà trường, qua đó tiến hành công tác thảo luận và phân tích. Dựa vào KQNC việc áp dụng công tác KTQT với hoạt động sử dụng ABC tại những lĩnh vực mang tính phi lợi nhuận, hon hết là ở lĩnh vực GD đại học nó được xem như một công cụ dùng để QL giúp thu được hiệu quả cho đon vị.
Có thể thấy, công tác nghiên cứu hoạt động áp dụng KTQT tói việc đưa ra quyết định mang tính ngắn hạn, dài hạn giống vói những quyết định có mối liên kết tới ngân sách ở các trường đại học ở miền Tây - Nam Nigeria của Ajayi & Omirin (2007). Đã dùng tới công cụ T-test nhằm nhận định được điểm khác biệt giữa những trường đại học thuộc liên bang và các trường đại học tiểu bang ở miền Tây - Nam Nigeria dựa vào một số giả thuyết nghiên cứu. Từ đó, nhiều TG đã đưa ra nhận định rằng, hiện vẫn chưa có sự áp dụng mang tính phù hợp của KTQT đến việc đưa ra quyết định, thông qua đó đã đưa ra các khuyến cáo đến những trường đại học là cần áp dụng KTQT vào 7 hoạt động đưa ra quyết định đối với các kế hoạch mang tính ngắn hạn, dài hạn và cả kế hoạch ngân sách ỏ các trường đại học. Abdussalam Mahmoud Abu-Tapanjeh (2008) nghiên cứu nhằm phản ánh thực tế việc xác định những khoản chi phí ỏ hiện tại cũng như các thử thách phải đối mặt khi thực hiện tính chi phí phụ thuộc vào công việc ở những co sở GD đại học, thông qua việc đổi mới mô hình ABC.
Từ KQ thu được đã chỉ ra, ABC giữ vị trí hết sức to lớn trong những tổ chức, hỗ trợ nhiều cho công tác phân bổ tiềm năng mang tính hữu ích đến từ các hoạt động nguồn lực và các khoản phí có liên quan tới những công việc trên, diễn ra một cách khá tin cậy nhằm đáp ứng nhu cầu của việc xác định mức giá các sản phẩm. Dựa vào nghiên cứu cũng cho ta thấy, các ảnh hưởng đến từ hệ thống ABC đã hỗ trợ việc đưa ra nhận định một cách chính xác và hiệu quả về những yếu tố có liên qua tói ngân sách và biện pháp phân phối nguồn tài chính, nó giống như một phần của công tác QL thông qua hoạt động diễn ra tại những trường đại học. Amizawati Mohd Amir, Ruhanita Maelah, Azlina Ahmad and Sofiah Md. Auzair (2010) nghiên cứu thí điểm để minh họa cho việc áp dụng mô hình ABC tại một trường đại học công lập, đa số nhắm tới việc tính toán khoản chi phí cho mỗi sv.
Qua nghiên cứu cũng chỉ ra ABC hoàn toàn có thể tạo nên mới liên kết giữ những nguồn lực tiêu thụ và mộ số sản phẩm, dịch vụ đầu ra được cung cấp. Những thông tin trên hết sức quan trọng đối với các cơ quan QL và cơ quan lập pháp khi tiến hành đưa đến quyết định về mức gia đối với các dịch vụ của trường đại học và giúp cho việc ra quyết định thay đổi ở thời gian tới. Mặt khác cũng đã đưa ra khẳng định rằng, ABC chỉ dựa thể hiện hết khả năng khi có được sự chính xác đến từ hệ thống thông tin. Vì phải tiến hành nâng cấp hệ thống thông tin trước khi tiến hành ABC.
Muốn thể hiện được vị trí quan trọng của việc áp dụng KTQT ở một nền kinh tế ngày càng đi lên thì, Mahdi Saleh (2010) đã tiến hành khảo sát trực tiếp đối với 498 người với trình độ học vấn là cử nhân trở lên và đang tiến hành việc QL về mặt tài chính của các công ty, tập đoàn ở Iran muốn đưa ra câu trả lời cho các câu hỏi có trong bảng câu hỏi liên quan tới nội dung đang nghiên cứu. Trong nghiên cứu, TG đã dùng tới phương pháp thống kê mô tả và nhận định các thông dựa vào giá trị trung bình từ những câu hỏi đã đưa ra dựa vào thang đo Likert 5 bậc, qua đó có thể đem tới KQ 8 chấp nhận hoặc loại bỏ những giả thuyết. Từ KQ thu được đã chỉ ra, việc áp dụng KTQT đã hỗ trợ công tác đổi mới hệ thống BCTC diễn ra tại những công ty, tập đoàn ở Iran. Ruhanita Maelah, Amizawati Mohd Amir, Azlina Ahmad and Sofiah Md Auzair (2011) nghiên cứu trên đã dùng tới PPNC điển hình duy nhất nhằm biết được khoản phí đối với mỗi sinh viên cũng như hầu hết những chưong trình học tại một trường đại học công lập ở Malaysia, đã dùng tói phưong pháp ABC.
Dựa vào KQ thu được đã cho thấy, trên thực tế phưong pháp tính giá truyền thống hiện đang dùng tói và số lượng sinh viên là cơ sỏ để biết được khoản chi phí duy nhất trong việc phân bổ chi phí. Khoản chi phí riêng đối với từng sv được tính trung bình theo giảng viên. Nghiên cứu đã chỉ ra áp dụng ABC, một thông tin cụ thể và tổng quát hơn liên quan tới chi phí có thể được tạo ra ở các bậc đào tạo đại học và sau đại học. Nội dung của nghiên cứu do 3 TG người Serbia Snezana Knezevic, Aleksandra Stankovic và Rajko Tepavac (2012) đã dùng tới phương pháp định tính thông qua việc phân tích KQ các nghiên cứu đã có từ trước để khẳng định cho nghiên cứu của bản thân.
Bên cạnh việc đem tới các lý luận về áp dụng thông tin kế toán đáp ứng cho công tác đưa tới quyết định, thì nó còn giúp nói lên nhận định liên quan đến nội dung kế toán, điều này có nghĩa là một sự chuyển hóa dữ liệu nhằm hỗ trợ người sử dụng có thể tiến hành một công việc cụ thể tại thời điểm diễn ra công việc. Yếu tố đáng được quan tâm nhất trong một hệ thống thông tin hoàn hảo (complete information system) sẽ có như các đồ dùng, con người, phần mềm, thông tin, cách cư xử và phương pháp tổ chức, truyền thông và hệ thống mạng. Boyd (2013) đã nói nên mức độ cần thiết của KTQT, khoản chi cho việc đưa ra quyết định liên quan tới mục tiêu kinh doanh và tăng cao mức lợi nhuận khi ông tiến hành phân tích về nhiệm vụ cụ thể của nó. KTQT chi phí khiến ta biết cách phân loại theo nhiệm vụ, công việc cũng như cách ứng xử của chi phí và cách phân bổ các loại chi phí ra sao.2 Những nghiên cứu vể các nhân to ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT 9 Trên thực tế hiện nay, cũng có khá nhiều nghiên cứu của các TG khác nhau nói tới mối liên hệ và tác động của những yếu tố tới công tác sử dụng.
Theo đó thì, nghiên cứu của upping và Oliver (2012) đưa ra nhằm kiểm tra hoạt động thực hiện KTQT tại nhưng trường ĐHCL của Thái Lan và đưa ra dẫn chứng về những nhân tố tác động tới giai đoạn thực hiện là khả năng thể chế của một số trường đại học Thái Lan vẫn chưa cao vì vẫn còn thiếu nguồn lực công nghệ và những nhân viên có nhiều kiến thức kế toán trong khu vực tư nhân. Al-Hiyari và cộng sự (2013) nghiên cứu nhân tố tác động tới việc thực hiện hệ thống thông tin kế toán và chất lượng thông tin kế toán tại Đại học Ưtara Malaysia. Biết được mức độ tác động từ NNL, hiệu quả nguồn dữ liệu và đảm bảo việc QL liên qua tới hệ thống thông tin kế toán cũng như chất lượng thông tin. Dựa trên việc khảo sát với 119 người tham gia trả lòi nhằm cung cấp thông tin giúp nhận định về những giả thuyết nghiên cứu.
Những KQ thu được đã cho thấy mỗi liên hệ đang quan tâm giữa các cam kết QL, hiệu quả nguồn dữ liệu và hệ thống thông tin kế toán. Mặc dù vậy, mối liên hệ không liên quan tới NNL, mà mối liên hệ giữa cam kết QL và chất lượng nguồn dữ liệu không có mối liên quan đáng kể với lượng thông tin kế toán nhưng lại có mối liên hệ đáng kể tói hệ thống thông tin kế toán và NNL. Thông qua nghiên cứu đã đưa ra lời khuyên rằng những chưong trình có nội dung bồi dưỡng mang tính toàn diện nhằm có thêm kinh nghiệm trong việc thực hiện hệ thống thông tin kế toán và mức độ cần thiết của chất lượng dữ liệu, hon hết LĐ giữa vị trí cao nhất cần giúp đỡ thực hiện AIS nhằm đem tới lợi ích đầy đủ của hệ thống thông tin kế toán. Dưới đây là nghiên cứu khác do TG người Indonesia Nunung Nurhayati (2014) dựa vào việc sử dụng PPNC định lượng, tại đây TG đã nhận định rằng có sự tác động tưoi đôi của các yếu tố cam kết QL và kiến thức của nhà QL (là năng lực chuyên môn của nhà QL về kế toán quản trị dựa vào GD, bồi dưỡng và kiến thức) giúp đem tói hiệu quả trong việc tiến hành tốt kế toán quản trị dựa vào việc áp dụng công cụ ANOVA trong SPSS nhằm kiểm định giả thuyết và biết được mối liên hệ.
Từ những nhận định của TG cho thấy, tiến hành tốt kế toán quản trị là áp dụng kế toán quản trị giúp thực 10 hiện mọi nhiệm vụ hàng ngày mà đơn vị đưa ra, điều này được xác định dựa vào mức độ áp dụng và sự hài lòng của người dùng thông tin được tạo ra từ kế toán quản trị. Marc Bollecker (2016) đưa ra phân tích liên quan tới việc tổ chức KTQT diễn ra ở những trường đại học đã có tác động như thế nào do những chiến lược phân bổ đến từ các nhóm có liên quan.