Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị trong việc kiểm soát chi phí chất lượng. Chương 2: Thực trạng và đánh giá về việc kiểm soát chi phí chất lượng tại công ty 75 - chi nhánh Tổng công 15 Bộ Quốc Phòng. Chương 3: Vận dụng kế toán quản trị để kiểm soát chi phí chất lượng tại công ty 75 – chi nhánh Tổng công ty 15 Bộ Quốc Phòng. 17 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG VIỆC KIỂM SOÁT CHI PHÍ CHẤT LƢỢNG 1.
Khái quát chung về kế toán quản trị 1. Khái niệm về kế toán quản trị Theo wikipedia (bách khoa toàn thư mở) “kế toán quản trị hay kế toán quản lý là lĩnh vực chuyên môn của kế toán nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạng, đặc biệt thực trạng tài chính của doanh nghiệp; qua đó phục vụ công tác quản trị nội bộ và ra quyết định quản trị. Thông tin của kế toán quản trị đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của doanh nghiệp, đồng thời phục vụ việc kiểm soát, đánh giá doanh nghiệp đó.” Theo hiệp hội kế toán quốc gia Mỹ - National Association of Accountants – văn kiện số 1A ngày 19/3/1981, thì “kế toán quản trị là quá trình xác định, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo cáo, giải trình và thông đạt các thông tin tài chính đến các nhà quản trị để các nhà quản trị lập kế hoạch, đánh giá, và điều khiển mọi hoạt động nội bộ trong một tổ chức và đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn lực và quản lý chặt chẽ các tài sản trong doanh nghiệp. Kế toán quản trị cũng bao gồm cung cấp thông tin cho những đối tượng không phải là nhà quản trị như: cổ đông, nhà cung ứng, các đại lý và cơ quan thuế.” Theo Atkinson et al (2012) đã viết rằng: “Kế toán quản trị là quá trình cung cấp cho các nhà quản lý và nhân viên trong doanh nghiệp những thông tin có ích, cả về tài chính và phi tài chính, cho việc thực hiện quyết định, phân bổ nguồn lực, giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động.” Theo luật kế toán Việt Nam, kế toán quản trị được định nghĩa là “việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán (Luật kế toán, khoản 3, điều 4).
Theo thông tư 53/2006/TT-BTC của Bộ tài chính, thì “Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình 18 thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;. nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế.” Như vậy, tùy thuộc vào những quan điểm mà kế toán quản trị được định nghĩa theo những khía cạnh khác nhau, tuy nhiên tất cả đều có chung một cách nhìn nhận về mục đích của kế toán quản trị là cung cấp thông tin kinh tế phục vụ cho các cấp độ quản trị trong một doanh nghiệp để phân tích, đánh giá và ra quyết định kinh doanh. Nội dung kế toán quản trị Nội dung kế toán quản trị là bao gồm các mặt, các yếu tố cấu thành nên kế toán quản trị, thể hiện kết quả của quy trình công việc kế toán quản trị. Theo Phạm Văn Dược và Huỳnh lợi (2009) thì nội dung kế toán quản trị bao gồm hai phần: “Phần thứ nhất: Xây dựng thông tin tiêu chuẩn nội bộ về chi phí, thu nhập, lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh làm cơ sở quy trình tạo giá trị trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, như tiêu chuẩn định tính, định lượng và nhận diện các loại chi phí, thu nhập, lợi nhuận cần thiết trong điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phần nội dung này tạo nên thông tin cơ sở để thiết lập những nội dung kế toán quản trị chi tiết theo từng phương thức quản trị. Phần thứ hai: Xây dựng thông tin linh hoạt, kịp thời, phù hợp theo phương thức thực hiện các chức năng quản trị quy trình tạo giá trị trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phần này tạo nên những chi tiết, cấu trúc thông tin cụ thể của nội dung kế toán quản trị. Đó là: Thông tin định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh, như: dự toán giá bán, dự toán doanh thu, dự toán chi phí… 19 Thông tin kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, như: thông tin chi phí sản xuất, thông tin kết quả hoạt động sản xuất, thông tin kết quả hoạt động tiêu thụ… Thông tin kiểm soát và đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh, như thông tin về biến động kết quả và nguyên nhân của hoạt động sản xuất, … Thông tin chứng minh các quyết định quản trị, như: thông tin phân tích phương án kinh doanh mới, thông tin phân tích chi phí hữu ích…” 1.
Vai trò của kế toán quản trị Theo Phạm Văn Dược và Huỳnh Lợi (2009) thì: “Kế toán quản trị tạo nên kênh thông tin quản trị hữu ích đối với nhà quản trị trong môi trường sản xuất kinh doanh, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin ngày càng thay đổi nhanh chóng. Đó chính là một hệ thống thông tin quan hệ vật chất – trách nhiệm, một hệ thống thông tin minh bạch về trách nhiệm nội bộ của doanh nghiệp trong điều hành, quản trị doanh nghiệp”. Trước hết tùy theo mong muốn và chiến lược phát triển của nhà quản trị các cấp trong nội bộ doanh nghiệp mà họ sẽ có những yêu cầu riêng về thông tin cụ thể cho mọi lĩnh vực gắn với các chức năng quản lý. Vì thế vai trò của kế toán quản trị là cung cấp các thông tin hữu ích cho các quá trình lập kế hoạch, tổ chức điều hành hoạt động, kiểm tra và đánh giá, ra quyết định.
- Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch: kế hoạch là là một bức tranh tổng thể của doanh nghiệp trong tương lai, hoặc tổng thể các chỉ tiêu kinh tế được xây dựng và đưa ra các biện pháp để đạt được các mục tiêu kỳ vọng. Để xây dựng kế hoạch nhà quản trị thường phải dự đoán, phán đoán kết quả của các chỉ tiêu kinh tế sẽ xảy ra dựa trên những cơ sở khoa học có sẵn. Trong quá trình xây dựng, nhà quản trị thường phải liên kết các chỉ tiêu kinh tế với nhau để thấy rõ sự tác động về nguyên nhân và kết quả sẽ xảy ra trong tương lai. - Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức điều hành hoạt động: Đây là chức năng cơ bản của các nhà quản trị.
Chức năng này nhằm truyền đạt các 20 chỉ tiêu kế hoạch đã xây dựng cho các bộ phận trong doanh nghiệp. Đồng thời tổ chức hoạt động tại các bộ phận theo như kế hoạch đã phê duyệt. Chức năng này yêu cầu các nhà quản lý phải liên kết các bộ phận với nhau, sử dụng nguồn lao động hợp lý nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất để đạt được các mục tiêu đã dự định. Chức năng này yêu cầu các nhà quản trị phải sử dụng tổng hợp các thông tin của nhiều bộ phận trong doanh nghiệp, các thông tin bên trong và bên ngoài, thông tin định lượng và thông tin định tính để từ đó phán đoán và thực hiện tốt các quá trình kinh doanh theo các kế hoạch, dự toán đã xây dựng.
Tổ chức thực hiện còn là sự kết hợp hài hoà giữa các yếu tố trong quá trình sản xuất và vai trò của các nhà quản trị để thực hiện các khâu công việc theo như kế hoạch đã đề ra nhằm để đạt được mục tiêu của quá trình kinh doanh. Đây là giai đoạn quyết định nhất, bởi vì các quyết định kinh doanh phải hết sức linh hoạt, phù hợp với các yếu tố sản xuất và đạt được mục tiêu tối ưu. - Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra và đánh giá: Căn cứ vào các chỉ tiêu của các kết quả thực hiện đối chiếu với các kế hoạch đã xây dựng để kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kết quả của doanh nghiệp. Thông qua đó để phân tích và thu nhận các thông tin phục vụ cho quá trình kinh doanh tiếp theo.
Thực chất của quá trình kiểm tra và đánh giá thường là so sánh thấp được sự khác nhau giữa thực hiện với kế hoạch đã xây dựng, từ đó xác định các nguyên nhân ảnh hưởng để có thể điều chỉnh quá trình thực hiện của từng người, từng bộ phận nhằm cho các tổ chức hoạt động đạt được các mục tiêu tối ưu. Thông thường việc kiểm tra, đánh giá của kế toán quản trị thông qua hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện thông qua việc phân công, phân cấp dựa trên cơ chế quản lý tài chính và trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận trong một tổ chức hoạt động cụ thể. - Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: Đây là chức năng cơ bản nhất của thông tin kế toán quản trị.
Dựa vào nguồn thông tin thu nhập, thông 21 qua phân tích chọn lọc thông tin để đưa ra quyết định đối với từng hoạt động cụ thể của quá trình kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí. Ra quyết định là công việc thường xuyên của các nhà quản trị ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp. Việc ra quyết định thường dựa trên cơ sở tổng hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau, nhưng trong đó thông tin kế toán quản trị thường giữ vai trò có tính chất quyết định và độ tin cậy cao. Các nhà quản trị thường đứng trước nhiều phương án kinh doanh khác nhau.
Mỗi phương án thường bao gồm nhiều hệ thống thông tin đa dạng như là số lượng, chủng loại, chi phí, lợi nhuận, vốn, thị trường. Do vậy đòi hỏi kế toán quản trị phải tổng hợp, phân tích và chọn lọc hệ thống thông tin này. Trên cơ sở đánh giá hệ thống thông tin do kế toán quản trị cung cấp để đưa ra các quyết định chọn các phương án tối ưu.