CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO ĐÓI 1.1 Khái niệm nghèo đói Nghèo được định nghĩa là bị bần cùng hóa về phúc lợi. Theo quan niệm truyền thống, nghèo được hiểu trước mắt là sự thiếu thốn về vật chất, sống với mức thu nhập và tiêu dùng thấp. Khái niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốc gia, vùng hay từng cộng đồng dân cư nhìn chung không có sự phân biệt đáng kể. Hầu hết các tiêu chí để xác định nghèo đói đều dùng mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nhất của con người như: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội.
Sự khác nhau thường là ở chỗ mức độ thỏa mãn cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith cho rằng: “Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng. Khi đó, họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như là cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức. (Bộ LĐTBXH, 2003) Tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 người nghèo được định nghĩa: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại.
Theo Ngân hàng thế giới (NHTG), qua thời gian cũng có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo trong các báo cáo của mình. Năm 1990, định nghĩa nghèo đói của tổ chức này là tình trạng “không có khả năng có mức sống tối thiểu” bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến năm 2000 và 2001, NHTG đã thêm vào khái niệm tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương. Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa Trang 12 là khốn cùng.
Nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường. Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ (N. Tại Việt Nam chính phủ đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, theo đó: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” (N.
Tuy có nhiều cách diễn giải khác nhau về nghèo đói nhưng tất cả những định nghĩa về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh cơ bản của người nghèo: - Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; - Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng đó; - Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng trong các trường hợp, nghèo về thu nhập – nghèo vật chất luôn liên quan đến cái gọi là nghèo về con người – sức khỏe kém, trình độ giáo dục thấp. Nghèo về thu nhập và nghèo về con người thường kèm theo tình trạng nghèo về xã hội như tính dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất lợi như bệnh tật, khủng hoảng kinh tế hoặc thiên tai, không có tiếng nói trong hầu hết các thể chế trong xã hội và sự bất lực trong việc cải thiện điều kiện sống cá nhân. Trong nghiên cứu này, tác giả thiên về sử dụng định nghĩa của Ngân hàng thế giới (NHTG) về nghèo, đó là trình trạng “không có khả năng có mức sống tối thiểu”.1 Nghèo tuyệt đối Một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo tuyệt đối khi mức thu nhập của họ thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được quy định Trang 13 bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoản thời gian nhất định (Đinh Phi Hổ 2006).
Như vậy, tình trạng một người hoặc một hộ gia đình không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống (ăn, ở, mặc, được chăm sóc sức khỏe, được giáo dục cơ bản và được hưởng các dịch vụ cần thiết khác) mà được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước (NHTG).1 : Tiêu chuẩn nghèo đói của Ngân hàng thế giới Tiêu chuẩn nghèo đói (Mức thu nhập hoặc Khu vực chi tiêu USD/ ngày/người) Các nước đang phát triển 1 USD hoặc 360 USD/năm Châu Mỹ Latinh và Caribe 2 Đông Âu 4 Các nước phát triển 14,4 Tiêu chuẩn của NHTG về nghèo dựa trên chi tiêu tiêu dùng bao gồm mức tiêu thụ thực phẩm tối thiểu (70%) và các chi tiêu phi thực phẩm (30%) Bảng 1.2 : Tiêu chuẩn nghèo đói của Việt Nam. Tiêu chuẩn nghèo đói. Mức thu nhập (chi Khu vực tiêu)/ người/ tháng 2000-2005 2006-2010 Thành thị 150.000 đồng Nông thôn đồng bằng 120.000 đồng Nông thôn miền núi hải đảo 80.000 đồng Nguồn : Quyết định 143/2000 của Bộ LĐ TBXH.2 Nghèo tương đối Nghèo đói tương đối là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội xét theo không gian và thời gian nhất định (Đinh Phi Hổ, 2006). Theo cách sử dụng để phân tích các Điều tra Mức sống dân cư ở Việt Nam 1993-1998 thì Hộ gia đình được định nghĩa là nghèo nếu mức độ chi tiêu bình quân đầu người nằm trong 20% thấp nhất của chi tiêu hoặc 20% dân số có mức chi tiêu thấp nhất.
Lợi thế chính của phương pháp này là nó cho phép người ta xác định được rõ hơn các nhân tố làm tách biệt các hộ giàu với các hộ có thu nhập gần bằng hoặc thấp hơn giá trị trung vị. Trang 14 Như vậy, theo cách tính này thì người nghèo đói tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển nào.2 Các phương pháp xác định đối tượng nghèo hiện nay.1 Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam (năm 1992-1993 và năm 1997-1998). Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm).
Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày. Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm. Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung.2 Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo theo chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia.
Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam (năm 1992-1993 và năm 1997-1998). Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm). Trang 15 Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày.
Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm. Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung. Kể từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo.
Chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 đã được xây dựng dựa trên 3 yêu cầu : (1) xóa đói giảm nghèo toàn diện hơn, (2) công bằng hơn và (3) hội nhập theo chuẩn nghèo quốc tế. Theo đó, trong giai đoạn hiện nay, những hộ gia đình ở nông thôn có mức thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng được xem là hộ nghèo. Ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 260.000 đồng/người/tháng được xem như là hộ nghèo. Đây cũng là phương pháp xác định hộ nghèo được Bộ LĐTBXH áp dụng.3 Thước đo chỉ số nghèo đói và bất bình đẳng 1.1 Chỉ số đếm đầu (Po) Thước đo được dùng rộng rãi nhất là chỉ số đếm đầu, chỉ số này đơn giản là đo tỷ lệ người được tính là nghèo, thường ký hiệu là P0 với công thức sau: 1 N N P0 = ∑ I ( yi ≤ z ) = p N i= 1 N Trong đó: - N là tổng số hộ hay tổng dân số và - I (yi ≤ z) là hàm chỉ thị có giá trị bằng 1 khi biểu thức trong ngoặc là đúng và ngược lại không đúng là 0.
Vì vậy nếu chi tiêu (yi) nhỏ hơn chuẩn nghèo (z), thì I(yi ≤ z) bằng 1 và hộ gia đình đó được tính là nghèo. - Np là tổng số người nghèo. Trang 16 Như vậy, chỉ số đếm đầu người là công thức đơn giản, dễ tính toán và dễ hiểu vì đây là những đặc trưng quan trọng. Tuy nhiên, chỉ số không chỉ ra mức độ trầm trọng của đói nghèo, không phản ánh được mức độ đói nghèo, hay sự chênh lệch giữa chi tiêu so với đường chuẩn nghèo.