Chương 1 trình bày Khung lý thuyết về nghèo - trình bày tổng quan các lý thuyết về nghèo đói liên quan đến các khái niệm, các phương pháp xác định nghèo, các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói theo tiêu chuNn quốc tế và tiêu chuNn Việt N am, từ đó rút ra khung lý thuyết để làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu nghèo đói cho Vùng. Chương 2 sẽ trình bày Phương pháp nghiên cứu – chương này mô tả sơ lược về vùng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu cần thiết cho các mô hình kinh tế lượng. Chương 3 trình bày Kết quả phân tích – trình bày kết quả phân tích các nhân tố kinh tế, xã hội liên quan đến nghèo đói Vùng trong mối tương quan với vùng đồng bằng sông Hồng. Chương 4 trình bày một số gợi ý chính sách xóa đói giảm nghèo- nêu ra những gợi ý chính sách về xóa đói giảm nghèo cho Vùng.
12 CHƯƠN G 1 - KHUN G LÝ THUYẾT VỀ N GHÈO Chương này gồm 5 phần với nội dung của các phần như sau: Phần 1 trình bày các khái niệm cơ bản liên quan đến nghèo đói; phần 2 trình bày cách xác định nghèo đói của ngân hàng Thế giới và những ngưỡng nghèo của Việt Nam trong giai đoạn gần đây; phần 3 trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo dựa trên một số lý thuyết và những nghiên cứu trước đó; phần 4 của chương này sẽ trình bình một số lý thuyết về phát triển kinh tế như phát triển kinh tế, phát triển kinh tế bền vững, lý thuyết tăng trưởng nông nghiệp và nghèo đói ở nông thôn và một số mô hình nghiên cứu. Phần cuối cùng của chương sẽ trình bày một số kết quả nghiên của có liên quan tới đề tài. Các khái niệm cơ bản 1. Nghèo đói Đã có rất nhiều những định nghĩa về đói nghèo được đưa ra.
Tùy theo từng vùng, từng quốc gia, quan niệm về nghèo đói có một vài sự khác biệt nhưng nhìn chung tiêu chí chủ yếu được dùng để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản nhất của con người như: ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục và giao tiếp xã hội. Căn cứ vào trình độ phát triển và tập quán của mỗi nước, mức thu nhập hay chi tiêu này lại có sự biến thiên khác nhau theo tiêu chuNn mà xã hội đó quy định. N gưỡng nghèo là một khái niệm động, nó chẳng những biến động theo không gian mà còn theo thời gian ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội. Tại hội nghị chống nghèo đói do ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 09 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất với nhau rằng: “N ghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “N gười 13 nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phNm thiết yếu để tồn tại”. Theo N gân hàng thế giới, qua thời gian cũng có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo trong các báo cáo của mình. N ăm 1990, định nghĩa nghèo đói của tổ chức này bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phNm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến năm 2000 và 2001, N gân hàng Thế giới đã thêm vào khái niệm tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương: Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng.
N ghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường. N hưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. N gười nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Vì vậy, nếu chỉ hiểu nghèo đói ở góc độ thu nhập hay chi tiêu thấp sẽ không phát hiện hết được những vấn đề xã hội sâu xa có tác động đáng kể đến nghèo đói.
Khái niệm nghèo đói của chuyên gia hàng đầu của tổ chức lao động quốc tế (ILO) Abapia Sen người được giải nobel năm 1998 đề cập đến “cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”đã góp phần làm cho định nghĩa về nghèo đói mang tính khái quát hơn. N ghèo đói thể hiện ở ba yếu tố: người nghèo là người không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu, có mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư, thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Đây vừa là biểu hiện của nghèo đói nhưng cũng đồng thời là hệ quả phát sinh của tình trạng nghèo đói. Mức thu nhập thấp chi phối đến quá trình thụ hưởng những nhu cầu cơ bản của con người, liên quan đến sự giảm sút những cơ hội lựa chọn của người nghèo trong đời sống cộng đồng và ngược lại.
Thu nhập thấp cũng dẫn đến tích lũy ít hoặc không có tích lũy. Vốn nhỏ thì khó mở rộng sản xuất và khi gặp rủi ro trong kinh doanh, mất vốn thì khả năng tạo lập vốn mới là khó. Do đó, có thể khẳng định thêm là khả năng thoát nghèo và vươn lên tầng lớp trung bình xã hội rất khó khăn và hầu như rất hiếm trường hợp như vậy. 14 N ghiên cứu này sử dụng định nghĩa của N gân hàng thế giới (WB) về nghèo, đó là tình trạng “không có khả năng có mức sống tối thiểu”.
N hư vậy, tất cả những định nghĩa về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo: • Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. • Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng đó. • Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Nghèo tuyệt đối Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McN amara, khi còn là giám đốc của N gân hàng Thế giới nhiệm kỳ 1968 - 1981, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối.
Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "N ghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. N hững người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phNm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta." Một cách diễn đạt khác, một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo đói tuyệt đối khi mức thu nhập của họ thấp hơn tiêu chuNn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất định. Trên thế giới, các quốc gia thường dựa vào tiêu chuNn về mức thu nhập của WB đưa ra để phân tích tình trạng nghèo của quốc gia. Mỗi quốc gia cũng xác định mức thu nhập tối thiểu riêng của nước mình dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế trong từng giai đoạn phát triển nhất định, do đó mức thu nhập tối thiểu được thay đổi và nâng dần lên.
Nghèo tương đối N ghèo đói tương đối là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội xét theo không gian và thời gian nhất định. Theo cách sử dụng để phân tích các Điều tra Mức sống dân cư ở Việt N am 1993- 1998. Hộ gia đình là nghèo được định nghĩa là nếu mức độ chi tiêu bình quân đầu người nằm trong 20% thấp nhất của chi tiêu. Lợi thế chính của phương pháp này là nó cho phép người ta xác định được rõ hơn các nhân tố làm tách biệt các hộ giàu với các hộ có thu nhập gần bằng hoặc thấp hơn giá trị trung vị.
N hư vậy, theo cách tính này thì người nghèo đói tương đối sẽ luôn hiện hiện bất kể trình độ phát triển nào. Xác định nghèo đói Theo WB (2007), có 3 bước để xác định nghèo đói: (i) định nghĩa phúc lợi của hộ gia đình/cá nhân, (ii) xác định một giá trị chuNn (tối thiểu) để tách biệt 2 nhóm nghèo và không nghèo (gọi là ngưỡng nghèo hay chuNn nghèo) và (iii) tính toán các chỉ số thống kê tổng hợp dựa trên mối quan hệ giữa phúc lợi kinh tế và ngưỡng nghèo. Đo lường phúc lợi nói chung thì phức tạp hơn nhiều, nó rộng hơn chỉ số phúc lợi kinh tế. Bởi lẽ phúc lợi còn bao gồm tuổi thọ, chế độ dinh dưỡng, điều kiện nhà ở, tỷ lệ trẻ em đến trường, tỷ suất tử của trẻ em 5.
Cách tiếp cận phổ biến nhất trong đo lường phúc lợi (kinh tế) là dựa vào chi tiêu tiêu dùng hay thu nhập của hộ gia đình. N ếu chúng ta chia đều cho tất cả các thành viên trong hộ thì được chi tiêu tiêu dùng hay thu nhập bình quân đầu người (chỉ số phúc lợi kinh tế của cá nhân). Hầu hết các nước phát triển sử dụng thu nhập để xác định nghèo đói, trong khi các nước đang phát triển sử dụng chi tiêu. Đối với các nước phát triển, thu nhập phần lớn là từ tiền lương nên dễ xác định, trong khi chi tiêu dùng thì phức tạp và khó xác 5 World Bank, Poverty Manual năm 2007 16 định.
N gược lại, ở các nước đang phát triển thu nhập khó tính toán hết bởi phần lớn thu nhập đến từ công việc tự làm nhưng rất khó tách biệt, trong khi chi tiêu thì dễ thấy hơn, rõ ràng hơn 6. Phương pháp xác định ngưỡng nghèo theo chuNn quốc tế. Theo WB (1990), ngưỡng nghèo đói ở mức thấp gọi là ngưỡng nghèo đói lương thực - thực phNm. N gưỡng nghèo đói ở mức cao hơn gọi là ngưỡng nghèo đói chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực – thực phNm và phi lương thực – thực phNm).