Chương 1 TONG QUAN 1.Téng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Mosley (2001) đã đánh giá tác động của khả năng tiếp cận tài chính vi mô đối với đói nghèo thông qua các khảo sát mẫu nhỏ về bốn tô chức tài chính vi mô, hai đô thị và hai nông thôn, sử dụng một số các khái niệm về đói nghèo như thu nhập và tài sản nắm giữ dé phân tích. Những chính sách hứa hẹn cho việc giảm nghèo tiếp tục ở Bolivia: nỗ lực huy động tiết kiệm nông thôn, loại bỏ các giới hạn về quy mô cho vay và giới thiệu các cơ chế bảo hiểm thích hợp. So với các biện pháp chống đói nghèo khác, tài chính vi mô dường như thành công và tương đối rẻ trong việc giảm nghèo của những người gần với chuan nghèo, còn đối với những hộ trường hợp nghèo cùng cực thi tài chính vi mô không hiệu quả so với thị trường lao động và các biện pháp hạ tầng.
Nghiên cứu của Siegel (2005) đã đi vào phân tích những thay đổi về kinh tế, chính trị và xã hội lớn diễn ra ở Trung Mỹ và tác động của nó đến những cải thiện về phúc lợi và giảm nghèo nông thôn. Cách tiếp cận của nghiên cứu là dựa trên xem xét các liên kết giữa các tài sản sản xuất, xã hội và địa điểm của hộ gia đình; bối cảnh chính sách, thể chế và rủi ro; hành vi hộ gia đình và chiến lược sinh kế. Đối với việc giảm nghèo bền vững và tăng trưởng, danh mục tài sản hộ gia đình bao gồm vốn con người (độ tuổi, học vấn, nghề nghiệp.) và tài nguyên đất có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn chiến lược sinh kế để giảm nghèo. Chowdhury, Ghosh, và Wright (2005) đã kiểm tra thực nghiệm tác động của tín dụng vi mô về đói nghèo ở Bangladesh.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy tín dụng vi mô có liên quan với cả giảm nghèo khách quan và chủ quan va nó có tác động đến đói nghèo đặc biệt mạnh trong khoảng 6 năm. Cùng hướng tiếp cận, Imai, Gaiha, Thapa, và Annim (2012) đã đưa ra kết luận rang: một quốc gia có số lượng tổ chức tài chính vi mô nhiều hơn, tổng các khoản cho vay bình quân đầu người lớn hơn thì hiệu quả giảm nghèo có xu hướng tốt hơn và tài chính vi mô cũng làm giảm tỷ lệ nghèo ở cấp độ vĩ mô một cách đáng ké. Những kết luận của công trình nghiên cứu trên đã cho thấy rằng tài chính vi mô không những làm giảm tỷ lệ đói nghèo mà còn có tác động làm giảm độ sâu của nghèo đói. Minot (2006) đã phân tích tăng trưởng thu nhập dé đánh giá tầm quan trọng tương đối của tăng trưởng năng suất, mở rộng diện tích, thay đôi giá, da dạng hóa các loại cây trồng có giá trị cao hơn, và da dang hóa các hoạt động phi nông nghiệp đối với việc giảm nghèo.
Nghiên cứu cho rằng việc khai thác tiềm năng cho nông nghiệp có giá trị cao là cách để giảm thiểu nghèo đói ở các nước đang phát triển. Đặc biệt, nhóm tác gia cũng kiểm tra các cơ chế, thé chế dé liên kết nông dân, người chế biến và người mua với mục đích giúp người nghèo tham gia với tư cách là nhà sản xuất, người lao động và người tiêu dùng trong các thị trường phát triển nhanh chóng cho các mặt hàng nông sản có giá trị cao, từ đó giúp họ giảm nghèo một cách bền vững. Kết quả nghiên cứu ước tính NDC ở Bhutan áp dụng một phương pháp mới được phát triển bởi Alkire và Foster (2011) sử dụng dữ liệu Khảo sát mức sống của Bhutan năm 2007. Năm chiều được xem xét để ước tính ở cả khu vực nông thôn và thành thị là thu nhập, giáo dục, phòng ở có sẵn, tiếp cận điện và tiếp cận với nước uống và hai chiều bé sung chỉ được xem xét ở khu vực nông thôn là đường vào và sở hữu đất.
Các ước tính trong nghiên cứu được phân chia thành các khu vực nông thôn và thành thị. Nghiên cứu chỉ ra rằng, NDC chủ yếu là một hiện tượng xuất hiện ở nông thôn, trong đó, nghèo đói trong giáo dục, điện, phòng ở có sẵn, thu nhập và tiếp cận đường bộ chiếm tỷ lệ lớn, còn đói nghèo về sở hữu đất và nước có đóng góp tương đối nhỏ hơn. Riêng ở khu vực đô thị thì sự thiếu thốn chủ yếu rơi vào hai chiều là nhà ở và giáo duc. Phương pháp được đề xuất như một công thức tiềm năng dé đo lường đói nghèo quôc gia và phân bô ngân sách giữa các huyện và các ngành.
Với phương pháp đo lường đa chiều, các tác giả Alkire và Santos (2010) đã xây dựng chỉ số nghèo đa chiều MPI. Theo đó, MPI gồm 03 chiều nghèo là: Sức khỏe (Health), Giáo dục (Education), Điều kiện sống (living Standards) và 10 chỉ số: Sở hữu tài sản (Assets), Chất liệu sàn nhà (Floor), Điện (Electrition), Nước (Water), Vệ sinh (Toilet), Nhiên liệu đun nấu (Cooking fuel), Trẻ em đi học (Children enrolled), Số năm đi học (Years of Schooling), Tỷ lệ trẻ em tử vong (Children mortality), Dinh dưỡng (Nutrition). Các chiều nghèo có tỷ trọng bằng nhau và các chỉ số cũng có tỷ trọng bằng nhau trong một chiều nghèo. Theo nghiên cứu của Alkire và Santos, MPI là tích của 2 số là Chỉ số đếm đầu (H - phần trăm của những người nghèo) và cường độ thiếu hụt trung bình (A - số chiều bình quân hộ gia đình bị thiếu hụt).
MPI chỉ ra rằng tại một thời điểm thì một cá nhân hay hộ gia đình bị thiếu hụt như thế nào, họ được cho là nghèo nếu bị thiếu hụt từ 30% tỷ trọng của các chỉ số trở lên. Krishna (2006) cho thấy: sự da dạng hóa nguồn thu nhập là nhân tố quan trọng nhất giúp hộ nông dân thoát nghèo trong khu vực này. Ba yếu tố chủ yếu là sức khỏe, nợ nan, và chi phí giao tế xã hội kết hợp lại chiếm đến 85% trong tat cả trường hợp bị rơi vào cảnh nghèo. Bên cạnh đó, nghèo còn bị tác động bởi các yếu tô như phong tục, nợ tư nhân lãi suất cao, hạn hán.
Chính sách giảm nghèo được yêu cầu sử dụng trong tương lai thuộc hai bộ chính sách khác nhau, một bộ dé hỗ trợ thoát nghẻo và một bộ khác để ngăn chặn nguồn gốc của nghèo đói. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu thực tế của Haggblade, Hazell, và Reardon (2007) nhắn mạnh tam quan trọng của thu nhập phi nông nghiệp trong việc giảm nghèo ở các quốc gia đang phát triển. Nghiên cứu chỉ ra rằng tăng trưởng phi nông nghiệp ở nông thôn có thé cung cấp một con đường thoát nghèo cho người dân nông thôn bởi chính điều này làm tăng năng lực sản xuất và năng suất lao động của họ, từ đó làm tăng thu nhập. Và dé có thê tăng trưởng phi nông nghiệp thì yêu cầu đầu tư vào công nghệ nông nghiệp, giáo dục nông thôn, truyền thông, vận chuyền và điện khí hóa.
Sự phát triển của những yếu tổ này gián tiếp tạo cơ hội thoát nghèo cho người dân nông thôn. Cũng hướng tiếp cận đánh giá các nhân tố có thé tác động đến thu nhập và tình trạng nghèo của hộ, Otsuka, Estudillo, và Sawada (2008) cho rằng các yếu tố như nguôn thu nhập (nông nghiệp và phi nông nghiệp), số năm đi học của chủ hộ, quy mô diện tích đất mà hộ nắm giữ và chấp nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất tác động rất lớn đến tình trạng nghèo, tỷ lệ thuận với khả năng thoát nghèo của hộ. Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Trọng Hoài (2005) đã phân tích các yêu tố ảnh hưởng đến nghèo một cách toàn diện. Tác giả đã phân tích và chỉ ra những yếu tô ảnh hưởng tới nghèo đói của hộ nông dân là việc làm, dân tộc thiêu số, điện tích đất canh tác và vốn vay.
Đồng thời, tac giả cũng chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó tới nghèo đói. Từ đó, tác giả gợi ý các chính sách và đưa ra các giải pháp nhằm tác động vào các yếu tố đó dé giảm nghèo cho hộ nghèo ở vùng DNB. Cũng theo cách tiếp cận này, Dinh Phi Hồ và Nguyễn Trọng Hoài (2007) đã phân tích các yêu tố ảnh hưởng đến thu nhập và tình hình nghèo của các hộ nông dân, kết quả đưa ra 8 yêu tô ảnh hưởng đến nghèo: Nghề nghiệp, tình trạng việc làm; Trình độ học vấn (của chủ hộ); Giới tính của chủ hộ; Quy mô hộ gia đình; Số người sống phụ thuộc; Quy mô diện tích đất; Thành phần dân tộc; Khả năng tiếp cận và quy mô vốn vay nguồn tín dụng chính thức. Lê Thị Thanh Loan, Đỗ Ngọc Khải và Nguyễn Bùi Linh (2010) phân tích, mô tả các kết quả và phát hiện chính của cuộc điều tra về đặc điểm của dân số đô thị, tình hình tiếp cận giáo dục và sử dụng dịch vụ y tế, thực trạng việc làm, thu nhập và chi tiêu, nhà ở, tài sản lâu bền của hộ gia đình, đối phó với các cú sốc, rủi ro v.
Đây là những thước đo quan trọng dé đánh giá nghèo một cách toàn diện. Với cách tiếp cận mới NĐC, nghiên cứu này đã rút ra những kết luận về nghèo đô thị ở Hà Nội và TP. HCM như: Hà Nội có chỉ số nghèo đa chiều thấp hơn TPHCM, thành thị thấp hơn nông thôn và người có hộ khâu thấp hơn người nhập cư và với người dân có hộ khẩu ở hai thành phố này thì an sinh xã hội, dịch vụ nhà ở và chất lượng và diện tích nhà ở là ba chỉ số làm cho mức độ nghéo cao hơn, trong đó an sinh xã hội là chi số thiếu hụt lớn nhất. Bên cạnh đó, những người nhập cư cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội.
Thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ (điện, nước, thoát nước, .), thiếu hụt về tiếp cận hệ thông an sinh xã hội và thiếu hụt về chất lượng và diện tích nhà ở là 3 chiêu đóng góp nhiêu nhât vào chi sô nghèo đa chiêu; Đinh Phi Hồ và Chiv Vanndy (2009) đã chỉ ra các yêu tố tác động đến nghèo đói khu vực nông thôn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long bao gồm nghề nghiệp, tình trạng việc làm, trình độ học van, giới tính của chủ hộ, quy mô hộ va số người sống phụ thuộc, quy mô diện tích đất của hộ gia đình, quy mô vốn vay từ định chế chính thức, yếu tô dân tộc, khả năng tiếp cận cơ sở hạ tang.