CHƯƠNG 1 Ở chương này, khoá luận đã trình bày cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu cũng như đưa ra những vấn đề cơ bản nhất của nghiên cứu như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và hạn chế của việc nghiên cứu. Bên cạnh đó, khoá luận còn đưa ra các phương pháp sơ lược cũng như cách thiết kế bố cục của bài viết, từ đó làm cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu các chương tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Một số khái niệm có liên quan đến hiệu quả hoạt động ngân hàng 2.1 Ngân hàng thương mại và vai trò của NHTM Có thể nói NH là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Cho đến thời điểm hiện nay, có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về NHTM như: Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam (2010) định nghĩa rằng: “NHTM là loại hình NH được thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Các hoạt động kinh doanh này bao gồm: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Từ những quan điểm và định nghĩa trên có thể rút ra: NHTM là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, nhận tiền gửi từ các tác nhân trong nền kinh tế, sau đó thực hiện các nghiệp vụ cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính, tín dụng, thanh toán,. Đồng thời thực hiện các hoạt động đầu tư vào các tài sản có khả năng sinh lời khác. Nói cách khác, NHTM chính là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa nơi dư thừa vốn và nơi có nhu cầu sử dụng vốn cho các hoạt động đầu tư kinh doanh.
Như vậy, rõ ràng NHTM là một trong những tổ chức tài chính có vai trò quan trọng, được ví như huyết mạch của nền kinh tế. Trước hết, với vai trò trung gian tài chính, NHTM thực hiện việc điều phối và luân chuyển các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm thành các khoản tín dụng cho các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình (thể nhân), các tổ chức, doanh nghiệp (pháp nhân) và các định chế tài chính khác nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sản xuất kinh doanh cũng như các hoạt động đầu tư. Bên cạnh các nghiệp vụ tín dụng, vai trò thanh toán, bảo lãnh, đại lý của các NHTM cũng ngày càng quan trọng hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước nhà. Với vai trò thanh toán, NHTM thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ như thanh toán bằng séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử,.
Với vai trò người bảo lãnh, NHTM cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán. Với vai trò đại lý, các NHTM thay mặt khách hàng quản lý và bảo lãnh phát hành chứng khoán. Đồng thời, NHTM cung cấp các khoản tín dụng cho khách hàng cá nhân và hộ gia đình, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng như tín dụng cho tiêu dùng, tín dụng cho bất động sản, động sản. Bên cạnh đó, 8 NHTM cũng chính là một trong những thành viên quan trọng nhất của thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền trung ương và địa phương phát hành để tài trợ cho các chương trình công cộng.
Cuối cùng với vai trò thực hiện chính sách, các NHTM đóng một vai trò quan trọng trong việc thực thi các chính sách vĩ mô của chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Hiệu quả hoạt động theo ý nghĩa chung nhất được hiểu là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh mang lại. Hiệu quả hoạt động kinh doanh bao gồm hai mặt là hiệu quả kinh tế (phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp hoặc của xã hội để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất) và hiệu quả xã hội (phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh), trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định. Hiệu quả hoạt động là mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc các NH đạt được trong việc phân bổ các yếu tố đầu vào có thể sử dụng và các yếu tố đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã định trước. Ngân hàng thương mại có 2 chức năng chính là huy động tiền gửi và cho vay đối với các chủ thể trong nền kinh tế.
Như một trung gian tài chính, ngân hàng huy động vốn và trả lãi tiền gửi, sau đó sẽ thực hiện cho vay ra và thu lãi tiền vay, với lãi suất cho vay cao hơn lãi suất tiền gửi. Khi cung cấp dịch vụ cho người vay và người gửi tiền, các ngân hàng có kỳ vọng đạt được lợi nhuận mục tiêu nhất định. Ngoài việc cho vay, các ngân hàng cũng tạo ra lợi nhuận từ đầu tư. Trong nỗ lực tối đa hóa thu nhập của họ, mọi ngân hàng đều cố gắng có một cấu trúc tài sản và nợ theo cách mang lại lợi nhuận cao nhất.
Theo Berger và Mester (1997) cho rằng hiệu quả hoạt động của các NHTM được thể hiện ở mối quan hệ giữa chi phí sử dụng các nguồn lực đầu vào và doanh thu đầu ra hay chính là khả năng chuyển đổi các nguồn lực đầu vào thành các sản phẩm đầu ra tốt nhất trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Ngân hàng có hiệu quả hoạt động tốt thể hiện ở việc tạo ra doanh thu đầu ra lớn nhất với giá trị các yếu tố đầu vào nhỏ nhất.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM Các nhà nghiên cứu thường thông qua các chỉ tiêu tài chính để phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM. Đây là phương pháp phân tích đơn giản, các số liệu tính toán sẵn có dựa trên các báo cáo tài chính của các NHTM đã được kiểm toán và công bố công khai. Thông qua các chỉ số tài chính, nhà quản trị có cái nhìn trực quan về hiệu quả 9 hoạt động của NH, đồng thời có thể phân tích và so sánh tình hình tài chính giữa các NHTM với nhau.
Greuning & Bratanovic (1999) khẳng định rằng: “Một hệ thống ngân hàng phát triển bền vững được dựa trên lợi nhuận và nguồn vốn dồi dào. Lợi nhuận là một chỉ số thể hiện vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường ngân hàng và thể hiện hiệu quả trong quản lý ngân hàng. Lợi nhuận cho phép ngân hàng duy trì một mức độ rủi ro nhất định và cung cấp một tấm lá chắn chống lại các rủi ro phát sinh trong ngắn hạn. Lợi nhuận, thể hiện con số qua lợi nhuận giữ lại thường là một trong những nguồn quan trọng bổ sung vào nguồn vốn.
Lợi nhuận giữ lại là kết quả cuối cùng cho thấy những tác động ròng của các chính sách và hoạt động ngân hàng trong năm tài chính. Sự ổn định và tăng trưởng của lợi nhuận giữ lại là dấu hiệu biểu hiện tốt nhất về hiệu suất của ngân hàng trong quá khứ và tương lai”. “Lợi nhuận được đo lường thông qua các chỉ số tài chính như: thu nhập lãi ròng/ tổng tài sản, thu nhập ngoài lãi/ tổng tài sản, lợi nhuận ròng/ tổng tài sản (ROA), lợi nhuận ròng/ vốn chủ sở hữu (ROE)” (Greuning & Bratanovic, 1999). Yêu cầu đặt ra là việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá sao cho phù hợp, phản ánh đúng bản chất về năng lực tài chính của các NHTM.
Tham khảo các bài nghiên cứu trước, tác giả thấy rằng tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) là hai chỉ tiêu tài chính được dùng trong đánh giá hiệu suất sinh lời phổ biến nhất của hoạt động NH. Trong bài nghiên cứu này, tác giả lựa chọn nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời là ROA và ROE làm cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM.1 Khả năng sinh lời trên tổng tài sản ROA (Return on Asset) là tỷ suất thu nhập ròng trên tổng tài sản. ROA đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng, biểu hiện hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận. Chỉ số này phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản, thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận.
ROA càng cao cho thấy ban quản trị ngân hàng đang quản lí tốt tài sản và chuyển thành lợi nhuận ròng một cách hợp lí. Ngoài ra, ROA còn là chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính nhằm ra quyết định huy động vốn. Công thức tính như sau: 10 Lợi nhuận sau thuế !"# = Tổng tài sản 2.2 Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE (Return on Equity) là tỷ suất thu nhập ròng trên vốn chủ sở hữu. ROE đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn của ngân hàng.
Chỉ số này được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm, là một thước đo nhanh và dễ đo lường tính hiệu quả trong cách quản lý và sử dụng vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Khi xem xét ROE, các nhà quản trị biết được một đơn vị vốn sở hữu đầu tư vào kinh doanh mang lại mấy đơn vị lợi nhuận. ROE càng cao thì chứng tỏ việc sử dụng vốn chủ sở hữu của ngân hàng càng hiệu quả. Công thức tính như sau: Lợi nhuận sau thuế !"6 = Vốn chủ sở hữu 2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM Có rất nhiều điều kiện để một ngân hàng thương mại có thể phát triễn mạnh và bền vững, trong đó hiệu quả hoạt động là một trong những điều kiện quyết định sự sống còn của một ngân hàng.
Bên cạnh những nhân tố nội tại bên trong của ngân hàng còn có các nhân tố mang tầm vĩ mô ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM.1 Các nhân tố bên trong 2.1 Tuổi ngân hàng Mô hình ngân hàng bền vững đang được thực hiện ngày càng nhiều ở các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Một ngân hàng lâu năm cùng với sự phát triễn bền vững sẽ thu hút và tạo được nhiều niềm tin với khách hàng hơn một ngân hàng mới thành lập.