chương 1, tác giả chú trọng trong việc nêu rõ tính cấp thiết của đề tài cũng như những khoảng trống tri thức mà các nghiên cứu về đề tài "Phân tích yếu tố tác động đến việc tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam" trong giai đoạn trước chưa đề cập. Từ đó, đưa ra các mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, đóng góp của đề tài cũng như kết cấu tổng quát cho khóa luận của mình. Mẫu dữ liệu nghiên cứu cũng sẽ được tác giả thu thập từ 15 NHTM tại Việt Nam dưới dạng bảng dữ liệu cân bằng (Panel Data) trong giai đoạn 2011-2021. Ngoài ra, để tiến hành nghiên cứu của mình, tác giả quyết định sẽ sử dụng kết hợp giữa hai phương pháp là định tính (thống kê, tổng hợp, phân tích) và định lượng bằng các mô hình hồi quy cụ thể.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Cơ sở lý thuyết về tín dụng ngân hàng 2. Khái niệm Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), đã đề cập khái niệm về tín dụng ngân hàng như sau: "Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác". Theo Bùi Diệu Anh (2020), tín dụng ngân hàng là giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó chủ thể thứ nhất hay còn gọi là bên cấp tín dụng (ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng) sẽ chuyển giao một tài sản cho chủ thể còn lại được gọi là bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác có nhu cầu) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Theo điều 4, khoản 16 của Luật các tổ chức tín dụng (Luật số 47/2010/QH12 của Quốc hội, 2010) đã chỉ rõ "Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi". Tóm lại, sự chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng và các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế được gọi là tín dụng ngân hàng. Bên cạnh vai trò nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn thì ngân hàng còn có thể thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng cho từng nhu cầu khác nhau của các chủ thế trong nền kinh tế. Nói cách khác, trong nền kinh tế thị trường, vai trò của ngân hàng có thể vừa là người đi vay vừa là người cho vay tùy theo từng điều kiện để đáp ứng cũng như hỗ trợ cho các chủ thể thừa vốn hoặc thiếu vốn, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng tín dụng cũng như đảm bảo sự luân phiên và ổn định cho các ngành nghề trong nền kinh tế toàn cầu.
Ngoài ra, khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng cũng mình đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ thực hiện giải ngân cho bên đi vay một phần tài sản để sử dụng theo 10 thời gian đã được thỏa thuận và bên đi vay có trách nhiệm phải hoàn trả khoản vay (bao gồm cả gốc và lãi) vô điều kiện cho ngân hàng khi đến thời hạn thanh toán. Đặc trưng Thứ nhất, ngân hàng có thể dùng tài sản để cấp tín dụng thông qua nhiều hình thức như tiền tệ (tiền mặt, bút tệ), tài sản thực (tài sản trả góp, cho thuê tài chính,.) hoặc chữ ký (bảo lãnh, tín phiếu, hối phiếu,. Trong đó, phổ biến nhất phải kể đến hình thức cấp tín dụng dưới dạng tiền tệ. Thứ hai, cũng giống như các loại giao dịch tín dụng khác, ngân hàng sẽ thực hiện cấp tín dụng dựa trên cơ sở của lòng tin đối với khách hàng.
Do đó mà rủi ro trong tín dụng ngân hàng có tính tất yếu, mức độ rủi ro tiềm ẩn cao và không thể loại trừ hoàn toàn. Thứ ba, tín dụng ngân hàng mang bản chất hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi. Theo đó khi thực hiện hoạt động cấp tín dụng, ngân hàng cần phải cân nhắc đến hai yếu tố căn bản là thời hạn và kỳ hạn tín dụng phải hợp lý. Đồng thời chính sách lãi suất cũng cần phải đảm bảo được mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng nhưng vẫn được nền kinh tế chấp nhận.
Nói cách khác, lãi suất tín dụng phải bù đắp được các chi phí mà ngân hàng đã bỏ ra để huy động vốn vay cũng như các chi phí phát sinh liên quan. Cuối cùng, cam kết hoàn trả khoản tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng là cam kết vô điều kiện và khách hàng phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng khi khoản nợ đến hạn. Phân loại Theo Bùi Diệu Anh (2020), tín dụng ngân hàng có thể được chia thành nhiều loại tùy thuộc vào mục đích quản trị tín dụng và dựa trên cơ sở các tiêu chí khác nhau. Phân loại theo mục đích sử dụng - Tín dụng cho sản xuất kinh doanh: Bao gồm tất cả các khoản tín dụng được sử dụng để tài trợ cho mục đích sản xuất kinh doanh như vay để bổ sung vốn lưu động, xây dựng nhà xưởng, mua tài sản cố định,.
11 - Tín dụng tiêu dùng: Được hiểu là loại hình mà ngân hàng sẽ cấp tín dụng để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu cá nhân cũng như các nhu cầu phát sinh thường ngày của khách hàng như mua sắm, mua phương tiện đi lại, mua nhà,,. - Tín dụng đối với các tổ chức tài chính khác: Ở hình thức cấp tín dụng này, các ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng quy mô lớn sẽ thực hiện tài trợ khoản vay hay cấp hạn mức tín dụng cho các tổ chức tín dụng nhỏ hơn. Và cũng từ đó mà tín dụng đối với các tổ chức tài chính thường sẽ được cung cấp dưới dạng số lượng lớn hay nói cách khác là "bán sỉ/ bán buôn". Phân loại theo thời hạn cấp tín dụng Bảng 2.1: Phân loại tín dụng ngân hàng theo thời hạn cấp tín dụng Phân loại Thời hạn Mục đích Dùng cho việc bổ sung vốn lưu động bị thiếu hụt Tín dụng Dưới 01 năm theo thời vụ hoặc tài trợ cho các nhu cầu vay tiêu ngắn hạn dùng ngắn hạn.
Tài trợ cho hoạt động mua sắm tài sản cố định Tín dụng Từ 01 đến 05 như mua máy móc dây chuyền và bổ sung vốn trung hạn năm lưu động thường xuyên. Mục đích tài trợ giống với tín dụng trung hạn nhưng với thời gian cấp tín dụng sẽ dài hơn. Tín dụng Trên 05 năm Ngoài ra tín dụng dài hạn còn bao gồm cả việc dài hạn tài trợ cho doanh nghiệp có các dự án đầu tư quy mô lớn hoặc các khoản vay mua nhà của cá nhân. Phân loại theo phương thức tổ chức cấp tín dụng - Tín dụng trực tiếp: Các khoản tín dụng trực tiếp giữa ngân hàng và người đi vay không thông qua bên thứ ba được gọi là tín dụng trực tiếp.
Theo đó ngân hàng sẽ trực tiếp tìm hiểu, phân tích, đánh giá về người đi vay trước 12 khi đưa ra quyết định có chấp nhận thực hiện cấp tín dụng hay không. Nếu ngân hàng chấp nhận thì giữa hai bên sẽ thỏa thuận và kí hợp đồng tín dụng. - Tín dụng gián tiếp: Trái với tín dụng trực tiếp, hình thức cấp tín dụng mà ngân hàng sẽ tiến hành mua lại các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán từ người sở hữu chúng được gọi là hình thức cấp tín dụng gián tiếp. Phân loại theo mức độ tín nhiệm của người vay - Tín dụng có đảm bảo: Là loại hình tín dụng được cung cấp dựa trên cơ sở của các biện pháp đảm bảo được bộ Luật dân sự quy định như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, tín chấp,.
nhằm mục đích hình thành nguồn trả nợ mới, bổ sung cho nguồn trả nợ đầu tiên trong trường hợp nguồn trả nợ đầu tiên không được thực hiện vì các lý do như khách hàng phá sản, làm ăn thua lỗ,. - Tín dụng không có đảm bảo: Hay còn gọi là tín chấp- loại hình tín dụng được thực hiện dựa trên cơ sở tín nhiệm là lòng tin của ngân hàng đối với khách hàng đi vay thay vì phải sử dụng tài sản đảm bảo. Phân loại theo hình thức cấp tín dụng - Cho vay: Được hiểu là hình thức trao đổi hoặc cam kết trao đổi một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong tương lai giữa bên cho vay đối với các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế với nguyên tắc bên đi vay sẽ hoàn trả cả gốc và lãi khi khoản vay đến hạn. - Chiết khấu: Là hoạt động mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá của người thụ hưởng khi đến hạn thanh toán.
- Bao thanh toán: Được hiểu là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng giữa hai bên. 13 - Cho thuê tài chính: Vì hợp đồng cho thuê tài sản chính là cơ sở để thực hiện hình thức này cho nên đây được xem là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn và các ngân hàng muốn thực hiện hình thức cấp tín dụng này phải thông qua một bên thứ ba hay còn gọi là các công ty cho thuê tài chính- một tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Theo đó, các công ty cho thuê tài chính sẽ tiến hành mua tài sản theo sự lựa chọn của khách hàng và khách hàng sẽ được quyền sử dụng tài sản đó trong một khoảng thời gian nhất định theo như hợp đồng đã ký giữa hai bên. - Bảo lãnh ngân hàng: Là hình thức cấp tín dụng ngày càng phổ biến và được thực hiện bằng chữ kí của ngân hàng.
Mục đích của hình thức này chính là ngân hàng sẽ cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã thỏa thuận với bên nhận bảo lãnh. Sau đó, khách hàng phải nhận nợ bắt buộc cũng như hoàn trả cho ngân hàng đúng như thỏa thuận. Trong trường hợp sau khi ngân hàng thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng nhưng không nhận được sự hoàn trả thì khách hàng sẽ bị ghi nhận nợ xấu. Vai trò của tín dụng ngân hàng 2.