Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 8 Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 9 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Ngân hàng thương mại: Ngân hàng Pháp năm 1941, định nghĩa ngân hàng là những doanh nghiệp hay tổ chức thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác để phục vụ cho chính bản thân doanh nghiệp hoặc tổ chức vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM, đinh nghĩa “NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy đinh của Luật các tổ chức tín dụng và các quy đinh khác của pháp luật.” Rose (2008) cho rằng NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, mà trong đó có ba dịch vụ chính là tín dụng, thanh toán và tiết kiệm, và ngoài ra NHTM còn thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào. Theo Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 06 năm 2010, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Cùng với sự pháp triển của xã hội, thì ngày nay các NHTM cũng đa dạng hoá các loai hình dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Ngoài các chức năng truyền thống là trung gian lưu chuyển vốn của nền kinh tế, theo Rose (2008) NHTM còn có thêm rất nhiều chức năng như: chức năng bảo hiểm, chức năng tín dụng, chức năng thanh toán, chức năng tiết kiêm, chức năng lập kế hoạch đầu tư, chức năng quản lý tiền mặt, chức năng ngân hàng đầu tư và bảo lãnh, chức năng môi giới. Mở rộng chi nhánh của ngân hàng: Theo Thông tư số 21/2013/TT-NHNN ban hành ngày 09/09/2013, định nghĩa mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại bao gồm chi nhánh, phòng giao dịch, văn 10 phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp ở trong nước; chi nhánh, văn phòng đại diện, ngân hàng 100% vốn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật. Theo đó: Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, hạch toán phụ thuộc, có con dấu, có nhiệm vụ thực hiện một hoặc một số chức năng của ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật. Phòng giao dịch là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, được quản lý bởi một chi nhánh ở trong nước của ngân hàng thương mại, hạch toán báo sổ, có con dấu, có địa điểm đặt trụ sở trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt trụ sở chi nhánh quản lý.
Phòng giao dịch không được thực hiện: Quyết định cấp tín dụng cho một khách hàng vượt quá hai (02) tỷ đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ quy đổi tương đương, trừ trường hợp khoản cấp tín dụng được đảm bảo toàn bộ bằng tiền, thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá do chính ngân hàng thương mại phát hành, trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc nhà nước; Cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế. Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, có con dấu, thực hiện chức năng đại diện theo ủy quyền của ngân hàng thương mại. Văn phòng đại diện không được thực hiện hoạt động kinh doanh. Đơn vị sự nghiệp là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, có con dấu, thực hiện một hoặc một số hoạt động hỗ trợ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, bao gồm: Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ ngân hàng cho ngân hàng thương mại; Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ thuật cho cán bộ, nhân viên của ngân hàng thương mại; Văn phòng liên lạc; nghiên cứu, tìm hiểu thị trường; Lưu trữ cơ sở dữ liệu, thu thập, xử lý thông tin phục vụ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại; Các hoạt động khác hỗ trợ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại phù hợp với quy định của pháp luật.
Sở giao dịch, quỹ tiết kiệm, điểm giao dịch là những đơn vị đã được thành lập theo các quy định của Ngân hàng Nhà nước trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành. 11 Ngân hàng 100% vốn ở nước ngoài là một loại hình công ty con do ngân hàng thương mại Việt Nam sở hữu 100% vốn điều lệ, có tư cách pháp nhân, được thành lập tại nước ngoài theo quy định luật pháp nước ngoài. Hiệu quả hoạt động của NHTM Khái niệm hiệu quả được giới thiệu lần đầu bởi Koopmans (1951). Một điểm sản xuất được coi là hiệu quả nếu quy mô đầu ra là tối đa với đầu vào cho trước.
Theo Coelli và cộng sự (2005), một đơn vị kinh tế được cho là hiệu quả hơn so với một đơn vị khác nếu nó có thể cung cấp hàng hoá dịch vụ nhiều hơn cho xã hội mà không cần sử dụng nhiều tài nguyên hơn đơn vị khác. Hay nói cách khác, đơn vị đạt hiệu quả nếu nó đạt mức tối đa về kết quả đầu ra trong điều kiện sử dụng tối ưu kết quả đầu vào cho trước. Hiệu quả kỹ thuật là khả năng sử dụng đầu vào ít nhất để sản xuất một đơn vị đầu ra cho trước hoặc khả năng thu được đầu ra lớn nhất từ một đơn vị đầu vào cho trước và mục tiêu đạt mức hiệu quả cao là mục tiêu tránh lãng phí của nhà sản xuất. Theo Nguyễn Khắc Minh (2004) thì “hiệu quả - efficiency” trong kinh tế được định nghĩa là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hoá và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”.
Như vậy, có thể hiểu hiệu quả là mức độ thành công mà các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó. Berger và Mester (1997) coi hiệu quả hoạt động của các NHTM thể hiện ở mối quan hệ giữa doanh thu đầu ra và chi phí sử dụng các nguồn lực đầu vào hay chính là khả năng biến các nguồn lực đầu vào thành các đầu ra tốt nhất trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Mester (1997) cho rằng hiệu quả hoạt động của các NHTM thể hiện ở việc các NHTM tạo ra doanh thu đầu ra lớn nhất với giá trị các nguồn lực đầu vào nhỏ nhất. Một ngân hàng được cho là đạt mức hiệu quả chi phí hay hiệu quả kinh tế toàn phần khi đạt cả hiệu quả phân bổ và hiệu quả kỹ thuật.
12 Trong phạm vi nghiên cứu này, hiệu quả hoạt động của các NHTM được coi là việc các NHTM sử dụng các nguồn lực đầu vào và tối đa quy mô sản lượng đầu ra hay là việc các NHTM tối thiểu hoá trong việc sử dụng các nguồn lực đầu vào với quy mô doanh thu đầu ra cho trước. Các NHTM đạt hiệu quả sử dụng nguồn lực khi đạt doanh thu đầu ra lớn nhất thông qua việc sử dụng cùng số lượng nguồn lực đầu vào với các NHTM khác nhưng chi phí sử dụng là thấp nhất. Phân loại hiệu quả hoạt động của NHTM Phân loại hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tiên được khởi xướng bởi Debreu (1951) và Farrell (1957) dựa trên lý thuyết về hiệu quả sản xuất. Hiệu quả sử dụng nguồn lực được chia thành: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ, hiệu quả chi phí hay hiệu quả kinh tế toàn phần, hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô.
Farrell (1957) sử dụng tình huống đơn giản với ngân hàng sử dụng hai đầu vào x1 và x2 để sản xuất đầu ra y, với điều kiện hiệu quả không đổi theo quy mô. Đường đồng lượng đơn vị của ngân hàng hiệu quả là YY’, điều này có nghĩa sự kết hợp hiệu quả nhất – khi chi phí là tối ưu để sản xuất một đơn vị sản lượng đầu ra trên đường đồng lượng YY’. Nếu một ngân hàng đã cho sử dụng các yếu tố đầu vào, xác định tại điểm P, để sản xuất một đơn vị đầu ra thì phi hiệu quả kỹ thuật của ngân hàng đó được xác định bởi khoảng cách RP - là lượng mà tất cả các đầu vào có thể giảm đi một cách tỷ lệ mà không làm giảm đầu ra. Mức không hiệu quả này thường được biểu diễn theo phần trăm và bằng tỷ số RP/OP, biểu thị tỷ lệ phần trăm mà tất cả các đầu vào có thể giảm.1) Hiệu quả kỹ thuật (TE) của ngân hàng được đo bằng tỷ số: TEi = OR/OP và nhận giá trị trong khoảng từ 0 đến 1.
Khi TE có giá trị bằng 1 thì ngân hàng có hiệu quả kỹ thuật tối đa, điểm R là hiệu quả kỹ thuật vì nằm trên đường đồng lượng hiệu quả. Hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Nguồn: Farrell (1957) Tỷ số giá đầu vào được biểu thị bằng đường đồng phí CC’, DD’, cho phép chúng ta tính được hiệu quả phân bổ. Đường đồng phí được xây dựng dựa trên việc thu thập thông tin về giá cả thị trường của các yếu tố đầu vào (x1,x2), đường đồng phí qua P của đơn vị sản xuất hay ngân hàng có dạng w1 x2+ w1x2= d. Độ dốc của đường đồng phí thể hiện tỷ lệ giá của các yếu tố đầu vào (x1, x2).
Tuy nhiên, ngân hàng có thể giảm thiểu chi phí đến điểm Q nằm trên đường đồng lượng. Q và S là hai điểm cùng nằm trên đường đồng phí CC’ được biểu hiện thông qua phương trình w1x1*+ w2x2* = c phản ánh chi phí tối thiểu cho các yếu tố đầu vào để sản xuất sản lượng đầu ra tối ưu. Hiệu quả phân bổ (AE) của ngân hàng hoạt động tại P được định nghĩa bởi tỷ số: AEi = OS/OR. Khoảng cách SP biểu thị lượng giảm trong chi phí sản xuất, nếu sản xuất diễn ra tại điểm hiệu quả phân bổ và hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả kinh tế toàn phần D, thay vì tại điểm hiệu quả kỹ thuật, nhưng không hiệu quả phân bổ Q (Coelli và cộng sự 2005).
14 Hiệu quả kinh tế toàn phần hay hiệu quả chi phí (CE) là sự kết hợp các yếu tố đầu vào (x1,x2) với chi phí thấp nhất. Hiệu quả chi phí được đo lường bằng tỷ lệ giữa chi phí thực tế wx và chi phí thấp nhất wx*, tỷ lệ wx*/ wx = OS / OP.