Chương 1. Giới thiệu cơ sở và lý do hình thành đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học của đề tài và kết cấu đề tài. Cơ sở lý thuyết và một số khái niệm liên quan đến đề tài, thực trạng còn tồn tại, giới thiệu các nghiên cứu trước và mô hình nghiên cứu đề xuất. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu.
Giới thiệu sơ lược về quy trình nghiên cứu, mô hình hồi quy tuyến tính. Phân tích kết quả nghiên cứu, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác kiểm tra tài chính đảng. Kết luận và kiến nghị, đưa ra các giải pháp giúp cho nâng cao hiệu quả các cuộc kiểm tra tài chính đảng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 2.
Khái niệm tài chính đảng Khái niệm “Tài chính” được hiểu như sau: Theo Giáo trình Tài chính học (1997), tài chính là hiện tượng đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ đại diện cho những sức mua nhất định ở các chủ thể kinh tế – xã hội. Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực tài chính thông qua tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích luỹ hay tiêu dùng của các chủ thể (pháp nhân hay thể nhân) trong xã hội. Theo trang web kietaichinh.com, tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ, diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội. Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội.
Theo Trần Hữu Nho (2004) trình bày trong đề tài khoa học cấp cơ sở về thực trạng và các giải pháp tổ chức kiểm toán tài chính đảng thì, tài chính là một phạm trù kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối dưới hình thức giá trị, nó là tổng thể các quan hệ kinh tế trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân; gắn liền với sự ra đời, tồn tại và hoạt động của Nhà nước; phát triển trong các mối quan hệ hữu cơ với nền sản xuất hàng hóa và quan hệ hàng hóa tiền tệ. Sản xuất hàng hóa và tiền tệ là nhân tố mang tính khách quan có ý nghĩa quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính và Nhà nước là nhân tố có ý nghĩa định hướng tạo điều kiện tạo ra hành lang pháp lý và điều tiết sự phát triển của tài chính. Như vậy, cũng có nhiều khái niệm khác nhau, tùy theo ở từng góc độ khác nhau và mục đích khác nhau, tài chính có thể được hiểu theo một số nghĩa sau: Thứ nhất, đó là một ngành nghề. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Thứ hai, đó là một lượng tiền hoặc tương đương với tiền, được sử dụng trong hoạt động kinh doanh.
Thứ ba, đó là một ngành học và lĩnh vực hoạt động nghiên cứu. Khái niệm “Tài chính đảng” sử dụng trong nghiên cứu được hiểu như sau: Theo Điều 46, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) có viết: - Tài chính của Đảng gồm đảng phí do đảng viên đóng, từ ngân sách nhà nước và các khoản thu khác. - Ban Chấp hành Trung ương quy định thống nhất nguyên tắc, chế độ quản lý tài chính, tài sản của Ðảng, mức đóng đảng phí của đảng viên. - Hằng năm, cấp ủy nghe báo cáo và quyết định nhiệm vụ tài chính của cấp mình Cũng theo Trần Hữu Nho (2004), tài chính đảng là một bộ phận cấu thành của tài chính Nhà nước, nó là tổng thể các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong các cơ quan Đảng, đảm bảo duy trì cho mọi hoạt động lãnh đạo của Đảng.
Các quan hệ kinh tế đó thực chất là các quan hệ về thu, chi ngân sách Đảng. Theo Lê Tuấn (2012) có nêu, tài chính đảng là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Đảng nhằm phục vụ các hoạt động của tổ chức đảng các cấp. Nói cách khác, tài chính đảng là việc quản lý và thu - chi của tổ chức đảng nhằm bảo đảm phục vụ các hoạt động của Đảng, của các tổ chức đảng. Tài chính đảng bao gồm đảng phí do đảng viên đóng, từ ngân sách và các khoản thu khác.
Trong Quyết định của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về công tác kiểm tra tài chính của Đảng có nêu, tài chính đảng là một khái niệm mang tính lịch sử, sự hình thành và phát triển của tài chính đảng gắn liền với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nói một cách khác, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3-2- 1930) là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự hình thành, tồn tại và phát triển của tài chính đảng. Để tiến hành các hoạt động của mình, ngay từ khi mới thành lập Đảng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 cần phải có một nguồn lực tài chính nhất định. Trong quá trình hoạt động của mình, các quỹ tiền tệ được hình thành, phân phối và sử dụng, thể hiện bằng các luồng tiền tệ đi vào và các luồng tiền tệ đi ra khỏi tổ chức đảng các cấp, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính đảng.
Quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của Đảng phát sinh các quan hệ kinh tế, được gọi là quan hệ tài chính. Tóm lại, tài chính đảng là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Đảng nhằm phục vụ các hoạt động của tổ chức đảng các cấp. Và cũng tại Quyết định của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về công tác kiểm tra tài chính của Đảng nêu mục đích của việc kiểm tra tài chính đảng là làm rõ ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) của đối tượng được kiểm tra trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, chế độ, quy định về quản lý tài chính, tài sản của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở đó, giúp cho đối tượng được kiểm tra phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, tồn tại và xử lý vi phạm (nếu có), tăng cường hiệu quả sử dụng tài chính, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị.
Theo bộ tài liệu nghiệp vụ của Ủy ban Kiểm tra Trung ương (2012) cho rằng: Trong quá trình hoạt động của Đảng, các quỹ tiền tệ được hình thành, phân phối và sử dụng, thể hiện bằng các luồng tiền tệ đi vào và các luồng tiền tệ đi ra khỏi tổ chức đảng các cấp tạo thành sự vận động của các luồng tài chính đảng. Qúa trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của Đảng phát sinh các quan hệ kinh tế, được gọi là quan hệ tài chính (quan hệ kinh tế giữa tổ chức đảng với tổ chức nhà nước; quan hệ tài chính trong nội bộ đảng; quan hệ tài chính giữa tổ chức đảng với các chủ thể khác trong xã hội). Như vậy, tài chính đảng là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Đảng nhằm phục vụ các hoạt động của tổ chức đảng các cấp. Trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của Đảng phát sinh các quan hệ kinh tế, được gọi là quan hệ tài chính.
Chúng ta có thể khái quát 3 loại quan hệ tài chính đảng cơ bản như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 - Quan hệ kinh tế giữa Đảng với Nhà nước: đó là các quan hệ phát sinh trong việc ngân sách nhà nước bảo đảm cân đối kinh phí cho Đảng hoạt động; Nhà nước cấp và cho các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp có thu của Đảng vay vốn; các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp có thu của Đảng nộp thuế, lệ phí và các khoản phải nộp khác;. - Quan hệ tài chính trong nội bộ Đảng: đó là các quan hệ phát sinh trong quá trình phân phối tài chính giữa tổ chức đảng các cấp (đơn vị dự toán cấp I với các đơn vị dự toán cấp II, III); quan hệ đóng đảng phí của đảng viên cho tổ chức đảng; quan hệ nộp một phần lợi nhuận của các doanh nghiệp của Đảng cho ngân sách đảng;. - Quan hệ tài chính giữa Đảng với các chủ thể khác trong xã hội: thể hiện trong việc tổ chức đảng các cấp sử dụng nguồn tài chính của mình để mua sách báo, tài liệu, xăng dầu, tài sản cố định, bảo hiểm. của các doanh nghiệp, người dân, bảo hiểm; các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước biếu, tặng cho Đảng ngoại tệ, tiền Việt Nam hoặc các loại kim khí đá quý;.
Từ đó có thể khái niệm một cách tổng quát như sau: tài chính đảng là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Đảng nhằm phục vụ các hoạt động của tổ chức đảng các cấp. Khái niệm kiểm tra tài chính đảng Công tác tài chính đảng bao gồm việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc quản lý, sử dụng tài chính theo đúng quy định của Đảng và Nhà nước. Do đó công tác kiểm tra tài chính đảng cũng kiểm tra toàn bộ công tác tài chính nói trên. Theo hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII, Điều lệ Đảng khóa XI ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW, ngày 01 tháng 11 năm 2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: “Kiểm tra của Đảng là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước”.