Những khó khăn về nhận thức và kĩ năng của học sinh trong giải toán về đường tròn trong chương trình toán lớp 9 và các biện pháp sư phạm của giáo viên

Khó khăn khi giải toán đường tròn lớp 9? Bài viết phân tích chi tiết các lỗi sai thường gặp và biện pháp sư phạm giúp học sinh nắm vững kiến thức.

Chuyên ngành

Sư Phạm Toán Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2023

129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Giả thuyết khoa học

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

6. Phương pháp nghiên cứu

7. Đóng góp của luận văn

8. Cấu trúc của luận văn

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Nghiên cứu nước ngoài

1.1.2. Nghiên cứu ở trong nước

1.2. Một số cơ sở lý luận về dạy học giải bài tập ở THCS

1.2.1. Quan niệm về bài toán

1.2.2. Kỹ năng giải toán

1.2.3. Sự hình thành kỹ năng giải toán

1.2.4. Ý nghĩa của việc giải toán

1.2.5. Phân loại bài tập

1.2.6. Xu hướng phát triển của bài tập

1.2.7. Các yêu cầu đối với lời giải toán

1.3. Khái quát về nội dung, chương trình kiến thức Đường tròn lớp 9

1.4. Những khó khăn của học sinh khi giải các bài toán về đường tròn trong chương trình toán lớp 9

1.4.1. Những khó khăn trong quá trình nắm được kiến thức các khái niệm, tính chất, quy tắc, thuật giải

1.4.2. Những khó khăn trong quá trình vận dụng tìm ra chiến lược giải, phát triển và mở rộng bài toán

1.5. Thực tiễn những khó khăn của học sinh khi giải các bài toán về đường tròn trong chương trình toán lớp 9 và các biện pháp hỗ trợ của giáo viên

1.5.1. Mục đích khảo sát

1.5.2. Đối tượng khảo sát

1.5.3. Nội dung khảo sát

1.5.4. Kết quả khảo sát

1.5.5. Đánh giá chung

1.6. Kết luận chương 1

2. BIỆN PHÁP HỖ TRỢ HỌC SINH GIẢI QUYẾT NHỮNG KHÓ KHĂN KHI GIẢI CÁC BÀI TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN ĐƯỜNG TRÒN Ở CHƯƠNG TRÌNH TOÁN LỚP 9

2.1. Định hướng xây dựng các biện pháp hỗ trợ học sinh khắc phục khó khăn khi giải các bài toán về đường tròn trong chương trình toán lớp 9

2.1.1. Bám sát với mục tiêu, nội dung và chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình môn Toán lớp 9

2.1.2. Các biện pháp phải khả thi, góp phần đổi mới phương pháp dạy học và giúp học sinh tiếp thu kiến thức dễ hơn

2.1.3. Quán triệt quan điểm hoạt động trong hỗ trợ học sinh khắc phục khó khăn khi giải các bài toán về đường tròn trong chương trình toán lớp 9

2.2. Biện pháp hỗ trợ học sinh khắc phục khó khăn khi giải các bài toán về đường tròn trong chương trình toán lớp 9

2.2.1. Biện pháp 1: Xác định những khó khăn của học sinh khi giải các bài toán liên quan đến đường tròn và xây dựng kế hoạch hỗ trợ

2.2.2. Biện pháp 2: Thiết kế nội dung bài học phù hợp với khả năng của học sinh khi giải các bài toán về đường tròn trong chương trình toán lớp 9

2.2.3. Biện pháp 3: Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu, kỹ năng phân tích tìm phương pháp chứng minh bài toán và vẽ đúng hình theo yêu cầu đề bài

2.2.4. Biện pháp 4: Thiết kế hệ thống câu hỏi gợi ý giúp học sinh tìm nhiều cách giải khác nhau cho một bài toán

2.2.5. Biện pháp 5: Rèn luyện kỹ năng trình bày lời giải và rèn luyện kỹ năng vẽ thêm hình phụ cho học sinh

3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

3.1.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

3.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm

3.3.1. Đối tượng thực nghiệm

3.3.2. Thời gian thực nghiệm

3.3.3. Tiến trình dạy thực nghiệm

3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm

3.4.1. Kết quả thực nghiệm sư phạm

3.4.1.1. Phân tích định tính
3.4.1.2. Phân tích định lượng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Khó Khăn Giải Toán Đường Tròn Lớp 9 Biện Pháp

Chương trình toán lớp 9, phần hình học về đường tròn, thường gây nhiều khó khăn cho học sinh. Những khó khăn này không chỉ đến từ việc nắm vững các định nghĩa, tính chất, mà còn từ việc vận dụng chúng một cách linh hoạt trong giải toán. Luận văn này tập trung phân tích những khó khăn học sinh lớp 9 giải toán đường tròn gặp phải, đồng thời đề xuất các biện pháp sư phạm dạy toán đường tròn hiệu quả lớp 9 để giúp giáo viên hỗ trợ học sinh tốt hơn. Mục tiêu là nâng cao kĩ năng giải toán đường tròn lớp 9 và tạo sự hứng thú học tập cho các em. Theo Nguyễn Thị Xuyên (2023), việc nhận diện và khắc phục sớm những khó khăn này có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền tảng toán học vững chắc cho học sinh. Việc ôn tập toán đường tròn lớp 9 cần được chú trọng để củng cố kiến thức.

1.1. Giới thiệu chung về chương trình hình học đường tròn lớp 9

Chương trình hình học lớp 9 tập trung vào các kiến thức về đường tròn, bao gồm định nghĩa, tính chất, các góc liên quan đến đường tròn (góc ở tâm, góc nội tiếp, góc tạo bởi tia tiếp tuyến và dây cung,...), vị trí tương đối của đường thẳng và đường tròn, hai đường tròn. Các bài tập thường yêu cầu chứng minh các tính chất, tính độ dài đoạn thẳng, góc, diện tích, hoặc xác định vị trí điểm, đường thẳng thỏa mãn điều kiện cho trước. Việc phân loại bài tập đường tròn lớp 9 giúp học sinh có cái nhìn tổng quan và lựa chọn phương pháp giải phù hợp. Giáo viên cần sử dụng tài liệu dạy học toán đường tròn lớp 9 một cách hiệu quả để truyền đạt kiến thức.

1.2. Tầm quan trọng của việc nắm vững kiến thức đường tròn lớp 9

Nắm vững kiến thức về đường tròn lớp 9 không chỉ quan trọng cho việc hoàn thành chương trình học, mà còn là nền tảng cho việc học toán ở các cấp học cao hơn. Các kiến thức này cũng có nhiều ứng dụng thực tế của đường tròn, ví dụ trong thiết kế, xây dựng, và các lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác. Việc hiểu rõ các tính chất đường tròn lớp 9 giúp học sinh giải quyết các bài toán thực tế một cách dễ dàng hơn.

II. Nhận Diện Khó Khăn Thường Gặp Khi Giải Toán Đường Tròn Lớp 9

Nhiều lỗi sai thường gặp khi giải toán đường tròn lớp 9 xuất phát từ việc học sinh chưa nắm vững lý thuyết hoặc chưa có kỹ năng phân tích đề bài tốt. Các khó khăn thường gặp bao gồm: không hiểu rõ các định nghĩa, tính chất, vẽ hình sai, không biết cách chứng minh, không biết cách khai thác giả thiết, không biết cách trình bày lời giải. Theo kết quả khảo sát, học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc vận dụng kỹ năng giải toán đường tròn lớp 9 một cách linh hoạt. Việc nhận thức học sinh về đường tròn lớp 9 còn hạn chế dẫn đến những sai sót không đáng có.

2.1. Khó khăn trong việc nắm vững kiến thức lý thuyết cơ bản

Học sinh thường gặp khó khăn trong việc ghi nhớ và hiểu rõ các định nghĩa, tính chất, định lý liên quan đến đường tròn. Ví dụ, nhiều em không phân biệt được góc nội tiếp và góc ở tâm, không nhớ các trường hợp bằng nhau của tam giác, hoặc không biết cách sử dụng các hệ thức lượng trong tam giác vuông. Để khắc phục, giáo viên cần nâng cao hiệu quả dạy toán đường tròn lớp 9 bằng cách sử dụng hình ảnh trực quan, sơ đồ tư duy, và các ví dụ minh họa sinh động.

2.2. Khó khăn trong việc vẽ hình chính xác và phân tích đề bài

Việc vẽ hình chính xác là yếu tố quan trọng để giải các bài toán hình học. Tuy nhiên, nhiều học sinh vẽ hình sai, thiếu nét, hoặc vẽ hình không đúng tỷ lệ, dẫn đến việc phân tích sai đề bài và không tìm ra hướng giải. Giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kỹ năng vẽ hình giải toán đường tròn lớp 9 một cách cẩn thận và chính xác. Ngoài ra, kỹ năng phân tích đề bài cũng rất quan trọng, học sinh cần biết cách đọc kỹ đề bài, xác định giả thiết, kết luận, và tìm mối liên hệ giữa chúng.

2.3. Khó khăn trong việc vận dụng kiến thức và kỹ năng giải toán

Ngay cả khi đã nắm vững lý thuyết và vẽ hình chính xác, nhiều học sinh vẫn gặp khó khăn trong việc vận dụng kiến thức và kỹ năng để giải toán. Các em không biết cách lựa chọn phương pháp giải phù hợp, không biết cách biến đổi các biểu thức, hoặc không biết cách chứng minh các định lý. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách suy luận logic, cách sử dụng các công cụ hỗ trợ (ví dụ, thước kẻ, compa), và cách kiểm tra lại kết quả.

III. Biện Pháp Sư Phạm Hướng Dẫn Dạy Toán Đường Tròn Lớp 9 Hiệu Quả

Để giúp học sinh vượt qua những khó khăn trên, giáo viên cần áp dụng các biện pháp sư phạm dại toán đường tròn lớp 9 phù hợp. Các biện pháp này cần tập trung vào việc củng cố kiến thức lý thuyết, rèn luyện kỹ năng vẽ hình, kỹ năng phân tích đề bài, và kỹ năng vận dụng kiến thức vào giải toán. Ngoài ra, giáo viên cần tạo một môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động thảo luận, làm việc nhóm, và tự học.

3.1. Củng cố kiến thức lý thuyết thông qua các hoạt động trực quan

Sử dụng hình ảnh, video, phần mềm mô phỏng để minh họa các khái niệm, tính chất, định lý liên quan đến đường tròn. Tổ chức các trò chơi, câu đố để giúp học sinh ghi nhớ kiến thức một cách dễ dàng hơn. Giáo viên cần linh hoạt sử dụng phương pháp dạy toán đường tròn hiệu quả lớp 9 để thu hút sự chú ý của học sinh.

3.2. Rèn luyện kỹ năng vẽ hình và phân tích đề bài

Hướng dẫn học sinh cách vẽ hình chính xác bằng thước kẻ, compa. Cho học sinh thực hành vẽ nhiều hình khác nhau để rèn luyện kỹ năng. Dạy học sinh cách đọc kỹ đề bài, xác định giả thiết, kết luận, và tìm mối liên hệ giữa chúng. Sử dụng các bài tập mẫu để hướng dẫn học sinh cách phân tích đề bài.

3.3. Phát triển kỹ năng vận dụng kiến thức và kỹ năng giải toán

Hướng dẫn học sinh cách lựa chọn phương pháp giải phù hợp. Dạy học sinh cách biến đổi các biểu thức, chứng minh các định lý. Cho học sinh thực hành giải nhiều bài tập khác nhau, từ dễ đến khó. Khuyến khích học sinh tự tìm tòi, sáng tạo cách giải mới. Tổ chức các hoạt động làm việc nhóm để học sinh học hỏi lẫn nhau.

IV. Ứng Dụng Thực Tế Kinh Nghiệm Dạy Toán Đường Tròn Lớp 9 Thành Công

Nhiều giáo viên đã áp dụng thành công các kinh nghiệm dạy toán đường tròn lớp 9 và đạt được kết quả tốt. Các kinh nghiệm này bao gồm: sử dụng phương pháp dạy học tích cực, tạo hứng thú cho học sinh, khuyến khích học sinh tự học, và sử dụng các công cụ hỗ trợ dạy học hiện đại. Việc chia sẻ kinh nghiệm dạy toán đường tròn lớp 9 là rất quan trọng để các giáo viên học hỏi và nâng cao trình độ chuyên môn.

4.1. Sử dụng phương pháp dạy học tích cực để tạo hứng thú cho học sinh

Tổ chức các hoạt động thảo luận, làm việc nhóm, trò chơi, câu đố để thu hút sự tham gia của học sinh. Khuyến khích học sinh đặt câu hỏi, nêu ý kiến, và chia sẻ kinh nghiệm. Tạo một môi trường học tập thân thiện, cởi mở, và khuyến khích sự sáng tạo.

4.2. Khuyến khích học sinh tự học và tìm tòi kiến thức

Giao bài tập về nhà phù hợp với trình độ của học sinh. Hướng dẫn học sinh cách sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo, và các nguồn tài liệu khác. Khuyến khích học sinh tìm kiếm thông tin trên internet. Tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình.

4.3. Sử dụng các công cụ hỗ trợ dạy học hiện đại

Sử dụng máy chiếu, bảng tương tác, phần mềm mô phỏng để trình bày kiến thức một cách trực quan. Sử dụng internet để tìm kiếm thông tin, tài liệu, và các bài tập mẫu. Sử dụng các phần mềm quản lý lớp học để theo dõi và đánh giá kết quả học tập của học sinh.

V. Phân Tích Lỗi Sai Giải Pháp Khắc Phục Khi Giải Toán Đường Tròn

Phân tích lỗi sai thường gặp khi giải toán đường tròn lớp 9 là một bước quan trọng để giúp học sinh khắc phục những điểm yếu và nâng cao trình độ. Các lỗi sai thường gặp bao gồm: sai lầm trong việc áp dụng công thức, sai lầm trong việc vẽ hình, sai lầm trong việc suy luận logic, và sai lầm trong việc trình bày lời giải.

5.1. Sai lầm trong việc áp dụng công thức và tính chất

Học sinh thường áp dụng sai công thức hoặc quên các điều kiện áp dụng của công thức. Để khắc phục, giáo viên cần nhắc lại các công thức và tính chất một cách rõ ràng, đồng thời cho học sinh thực hành giải nhiều bài tập khác nhau để ghi nhớ.

5.2. Sai lầm trong việc vẽ hình và phân tích đề bài

Học sinh thường vẽ hình sai, thiếu nét, hoặc vẽ hình không đúng tỷ lệ, dẫn đến việc phân tích sai đề bài. Để khắc phục, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kỹ năng vẽ hình chính xác và hướng dẫn học sinh cách đọc kỹ đề bài, xác định giả thiết, kết luận, và tìm mối liên hệ giữa chúng.

5.3. Sai lầm trong việc suy luận logic và trình bày lời giải

Học sinh thường suy luận không chặt chẽ hoặc trình bày lời giải không rõ ràng. Để khắc phục, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách suy luận logic, cách sử dụng các ký hiệu toán học, và cách trình bày lời giải một cách khoa học.

VI. Kết Luận Triển Vọng Nâng Cao Chất Lượng Dạy Toán Đường Tròn

Việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp sư phạm dạy toán đường tròn hiệu quả lớp 9 là rất quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học môn toán. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học mới, sử dụng các công cụ hỗ trợ dạy học hiện đại, và tạo một môi trường học tập tích cực để giúp học sinh yêu thích môn toán và đạt được kết quả tốt.

6.1. Tóm tắt các biện pháp sư phạm hiệu quả

Củng cố kiến thức lý thuyết thông qua các hoạt động trực quan, rèn luyện kỹ năng vẽ hình và phân tích đề bài, phát triển kỹ năng vận dụng kiến thức và kỹ năng giải toán, phân tích lỗi sai và tìm cách khắc phục.

6.2. Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học mới, sử dụng các công cụ hỗ trợ dạy học hiện đại, tạo một môi trường học tập tích cực, và đánh giá hiệu quả của các biện pháp sư phạm.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn ; Chương 2: Biện pháp hỗ trợ học sinh giải quyết những khó khăn khi giải toán hình lớp 9 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu nước ngoài Ở cấp THCS, môn Toán góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học với yêu cầu cần đạt: nêu và trả lời được câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề, thực hiện được việc lập luận hợp lí khi giải quyết vấn đề, chứng minh được mệnh đề toán học không quá phức tạp; sử dụng được các mô hình toán học (công thức toán học, phương trình đại số, hình biểu diễn,.) để mô tả tình huống xuất hiện trong một số bài toán thực tiễn không quá phức tạp; sử dụng được ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường để biểu đạt các nội dung toán học cũng như thể hiện chứng cứ, cách thức và kết quả lập luận; trình bày được ý tưởng và cách sử dụng công cụ, phương tiện học toán để thực hiện một nhiệm vụ học tập hoặc để diễn tả những lập luận, chứng minh toán học.

Xung quanh vấn đề sai lầm trong giải toán, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nổi tiếng đề cập đến vấn đề này.Komensky đã khẳng định: “Bất kỳ một sai lầm nào cũng có thể làm cho học sinh học kém đi nếu như giáo viên không chú ý ngay tới sai lầm đó bằng cách hướng dẫn học sinh tự nhận ra và sửa chữa, khắc phục sai lầm”. Stoliar còn nhấn mạnh: “Không được tiếc thời gian để phân tích trên giờ học các sai lầm của học sinh”. Pôlya thì cho rằng: “Con người phải biết học từ những sai lầm và những thiếu sót của mình”. Gờnhendenco khi nêu ra 5 phẩm chất của tư duy Toán học thì đã có tới 3 phẩm chất liên quan tới việc tránh các sai lầm khi giải toán: (1) năng lực nhìn thấy được tính không rõ ràng của suy luận; thấy sự thiếu các mắt xích cần thiết của chứng minh; (2) Có thói quen lý giải logic một cách đầy đủ; (3) Sự chính xác của lý luận [22].

Theo Javier Diez-Palomar (2006): Môn Toán thường khó có sự kết nối với cuộc sống hàng ngày của học sinh. Với độ tuổi của học sinh, họ thường nghĩ về ứng dụng của toán học với môi trường bên ngoài lớp học, chủ yếu về số lượng hoặc các hình dạng toán học [28, tr. Tác giả cũng chỉ ra những khó khăn của học sinh trong học tập môn Toán thường lúng túng, không biết vận dụng kiến thức đã học vào giải 4 quyết các tình huống đặt ra; không có khả năng phân tích, suy luận chặt chẽ; không thực hiện được hoặc còn sai sót một số kĩ năng tính toán. Do vậy, những khó khăn trong học tập môn Toán ở tiểu học nếu không được phát hiện và hỗ trợ kịp thời sẽ dẫn đến những khó khăn liên tiếp, không hoàn thành nội dung chương trình môn Toán và không hoàn thành chương trình cấp tiểu học, ảnh hưởng đến chất lượng phổ cập giáo dục ở tiểu học.

Ghelmont [25] đã cho rằng đa số học sinh yếu kém thường gặp khó khăn khi giải toán. Và ông cho rằng những thiếu sót trong giảng dạy của giáo viên là nguyên nhân cơ bản của tình trạng học kém. Ngoài ra, ông còn chỉ ra một số nguyên nhân khác phụ thuộc trực tiếp vào chủ thể học sinh, cụ thể là tính lười biếng, thái độ tiêu cực, tinh thần trách nhiệm và ý thức của người học sinh chưa cao. Nghiên cứu của L.

Xamôkhlova [45] dựa vào các nhóm nguyên nhân chiếm ưu thế, đã phân loại học sinh khó khăn trong giải toán trong học tập thành nhiều nhóm khác nhau trong đó có nhóm học sinh với thái độ không đúng đắn và thiếu hứng thú học tập. Slavina cho rằng những hạn chế trong giáo dục đã gây ra tính tiêu cực trong hoạt động nhận thức của học sinh mà hậu quả là cản trở sự hình thành những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trí tuệ cần thiết trong giai đoạn đoạn để phục vụ cho quá trình học tập về sau [45]. Nghiên cứu ở trong nước Năm 1996 có công trình nghiên cứu sai lầm của học sinh THPT khi giải toán Đại số, Giải tích của TS. Lê Thống Nhất.

Năm 1997, Nguyễn Vĩnh Cận và cộng sự xuất bản cuốn: “Sai lầm phổ biến khi giải toán: Dùng cho học sinh và giáo viên dạy toán PTTH”, cuốn sách đã thống kê phân tích những sai lầm khi giải các bài tập đại số, giải tích, lượng giác, hình học [22]. Năm 2010, tác giả Nguyễn Thanh Hưng và cộng sự xuất bản cuốn: “Những sai lầm thường gặp khi giải toán ở tiểu học”. Với cuốn sách này, tác giả đã đề cập tới những sai lầm mà học sinh tiểu học thường mắc phải khi giải toán nói chung, giải toán về số học, hình học, đại lượng và thống kê nói riêng. Với mỗi dạng toán, tác giả đưa ra các sai lầm, nguyên nhân và cách khắc phục những sai lầm đó.

Tác giả Bùi Huy Ngọc đã đưa ra một số biện pháp khai thác các nội dung thực 5 tế trong dạy học Số học và Đại số nhằm khắc phục khó khăn trong giải toán cho học sinh Trung học cơ sở: Chú ý khai thác các ví dụ và tình huống thực tế trong xây dựng và củng cố kiến thức; Thực hiện các hoạt động ngoại khóa có nội dung liên quan đến vận dụng Toán học vào thực tiễn; Khai thác ứng dụng Toán học vào các bộ môn khác gắn với thực tế; tăng cường rèn luyện các kĩ năng thực hành toán học gần gũi với thực tế đời sống (kĩ năng tính toán trên các số, kĩ năng vận dụng và đọc đồ thị, biểu đồ…); Chú ý rèn luyện cho học sinh sử dụng ngôn ngữ Toán học; Tăng cường khai thác các bài toán có lời văn mang nội dung thực tế… [27, tr. Trong [8], Lê Hoàng Hà (2012) đã chỉ ra trong mục trình bày về vấn đề quản lí hoạt động học tập của học sinh như: 1) Đánh giá và đánh giá liên tục trong quá trình dạy học để biết học sinh có khả năng, sở thích về sự sẵn sàng và sự tiến bộ của học sinh. Chỉ đạo chặt chẽ, khoa học phân loại học sinh theo tiêu chí cụ thể đã hoạt định theo từng bộ môn; 3) Nâng cao nhận thức cho học sinh theo quan điểm dạy học phân hóa; 3) Xây dựng nề nếp học tập của học sinh theo quan điểm dạy học phân hóa; 4) Chú trọng chỉ đạo hoạt động phụ đạo học sinh; 5) Chỉ đạo phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên trong việc quản lí hoạt động học tập của học sinh; 6) Quản lí chặt chẽ hoạt động học tập ở nhà của học sinh. Những kết quả nghiên cứu ở nước ngoài kể trên đều hướng vào hỗ trợ học sinh khi giải các bài toán, đặc biệt là những nhầm lẫn, khó khăn của học sinh khi ghi nhớ máy móc các công thức, khái niệm hơn là ghi nhớ về nguyên nhân, ý nghĩa, ứng dụng,….Không biết sử dụng, liên hệ với các kiến thức cơ bản đã học khi giải các bài tập trong sách giáo khoa.

Ít khi và khó có khả năng tập trung trong giờ học;. Khi được hỏi, trả lời thiếu sự lưu loát, trôi chảy và sử dụng ngôn ngữ chưa chính xác. Phụ thuộc vào giáo viên trong quá trình học kiến thức mới, ghi nhớ, làm bài tập,…;. Tuy nhiên chúng tôi cũng chưa thấy công trình nào đề cập đến cách thức hỗ trợ học sinh khi giải các bài toán đối với các bài toán hình học.

Một số cơ sở lý luận về dạy học giải bài tập ở THCS 1. Quan niệm về bài toán Theo Polya (1975): Bài toán đặt ra sự cần thiết phải tìm kiếm một cách có ý thức phương tiện thích hợp để đạt tới một mục đích trông thấy rõ ràng nhưng không 6 thể đạt được ngay. Giải bài toán tức là tìm ra phương tiện đó [25]. Trong SGK của Pháp, ở phần dành cho học sinh làm việc ở nhà, Bouvier (2000) phân chia các đề bài thành hai phần: Phần bài tập và Phần bài toán.

Phần bài tập bao gồm các câu hỏi áp dụng trực tiếp phần lí thuyết. Phần bài toán bao gồm việc giải quyết nhiều vấn đề xuất phát từ cuộc sống thực tiễn, đòi hỏi sự mô hình hóa chúng để đưa về các bài tập. Trần Thúc Trình (2003) đã phân biệt hai khái niệm bài tập và bài toán như sau: Để giải bài tập, chỉ cần yêu cầu áp dụng máy móc các kiến thức, quy tắc hay thuật toán đã học. Để giải được bài toán, phải tìm tòi, giữa các kiến thức có thể sử dụng và việc áp dụng để xử lí các tình huống còn có một khoảng cách, vì các kiến thức đó không dẫn trực tiếp đến phương tiện xử lí thích hợp; Muốn sử dụng được những điều đã biết, cần phải kết hợp, biến đổi chúng, làm cho chúng thích hợp với tình huống [30].

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Bài tập là một hình thức giao phó của giáo viên cho học sinh, trong đó chứa đựng những yêu cầu, đòi hỏi người học phải thực hiện những hành động lý thuyết hay thực tiễn nào đó” [16, tr89-90]. Ở một hướng tiếp cận khác, nhà khoa học Nga E. Rapasevich lại cho rằng: “Bài tập là các hình thức khác nhau về nội dung và khối lượng công việc hoạt động tự học của học sinh dưới sự chỉ dẫn của giáo viên. Nó là một phần không thể thiếu của quá trình dạy học”.

Theo “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê): “Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã được học” [6, tr33]. Qua đó cho thấy, bài tập là một nội dung không thể thiếu trong quá trình dạy học, là phương tiện quan trọng để tích cực hóa hoạt động của học sinh. Bài tập toán học là nhiệm vụ mà giáo viên đặt ra cho người học, buộc người học phải vận dụng kiến thức đã biết hoặc kinh nghiệm thực tiễn sử dụng hành động trí tuệ hay hành động thực tiễn để giải quyết nhiệm vụ nhằm chiếm lĩnh tri thức kinh nghiệm một cách tích cực hứng thú và sáng tạo. Johnson (1994) khi bàn về giải toán đã phân biệt hai khái niệm này như sau: giải bài tập thường chủ yếu yêu cầu học sinh lặp lại các phương pháp đã được học khi giải các bài tương tự.

Bài toán thường khó hơn nhiều và học sinh 7 thường không biết trước được các kiến thức nào đã học sẽ được sử dụng để giải chúng [16].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ