MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Cuộc sống của chúng ta muôn màu, muôn sắc nhƣng đều tuân theo một quy luật nhất định, đó là quy luật hai chiều. Thế giới có âm, có dƣơng, vạn vật hữu sinh hữu diệt, con ngƣời có nam có nữ, có cái tích cực tất yếu tồn tại cái tiêu cực và đô thị hóa cũng vậy.
Một mặt đô thị hóa mang đến cho ngƣời dân cảnh quan mới khang trang, sạch đẹp hơn và hứa hẹn một tƣơng lai hết sức tốt đẹp nhƣng mặt khác, nó lại đẩy ngƣời dân vào nỗi lo về việc làm. Có thể nói việc làm mang rất nhiều ý nghĩa khác nhau, đối với một số ngƣời nó là niềm vui, là uy tín, là thể diện, là tình yêu… nhƣng đối với ngƣời dân vùng đô thị hóa thì việc làm lại chính là cuộc sống của họ, là cái. Trong những năm cần câu cơm để họ nuôi sống bản thân và gia đình. Trong những năm gần đây, một số huyện của thành phố Hải Phòng đƣợc tiến hành đô thị hóa và việc làm trở thành nỗi lo của ngƣời dân nơi đây.
Các dự án lớn, nhỏ đã lấy đi không ít ruộng đất của họ, vì thế nó càng làm tăng quỹ thời gian nông nhàn và đẩy họ vào cảnh thiếu hoặc không có việc làm. Nhàn cƣ vi bất thiện, một số ngƣời thì tụ tập chơi bời, cờ bạc, trộm cắp, đánh nhau… một số khác lại tụ tập nói xấu ngƣời này ngƣời khác làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong thôn, xóm. Nhiều gia đình lục đục vì nỗi lo cơm áo, gạo, tiền, con cái hƣ hỏng, nhiều em bé không đủ áo ấm trong mùa đông giá lạnh, không đủ sách vở để học tập và con đƣờng đến trƣờng có thể bị dừng lại. Nếu tình trạng thiếu và không có việc làm vẫn tiếp diễn trong thời gian tới thì cuộc sống của ngƣời dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải phòng càng chồng chất khó khăn, vất vả, các tệ nạn xã hội thừa dịp mà hoành hành.
Nếu giải quyết tốt vấn đề việc làm thì những ƣu điểm của quá trình đô thị hóa nhanh chóng phát huy tác dụng và đời sống của ngƣời dân ngày một nâng cao, niềm vui, tiếng cƣời sẽ thay thế những giọt nƣớc mắt, nỗi lo của họ. Để làm đƣợc điều này thì nghiên cứu nhu cầu việc làm là điều 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hết sức quan trọng và cấp bách, điều này tạo nên động lực thôi thúc chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng” dƣới góc nhìn của tâm lý học xã hội. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nhu cầu, các mức độ của nhu cầu việc làm cũng nhƣ một số yếu tố ảnh hƣởng tới nhu cầu việc làm của ngƣời dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng. Từ đó đề xuất một số giải pháp tâm lý - xã hội giúp nhà nƣớc đƣa ra các chính sách phát triển việc làm góp phần thỏa mãn nhu cầu việc làm cho ngƣời dân ở vùng đô thị hóa.
Nhiệm vụ nghiên cứu 3. Nghiên cứu lý luận - Đọc và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về nhu cầu, nhu cầu việc làm để làm rõ một số khái niệm cơ bản của đề tài nhƣ: Khái niệm nhu cầu, khái niệm nhu cầu việc làm, khái niệm nhu cầu việc làm của ngƣời dân ở vùng đô thị hóa để hoàn thành cơ sở lý luận của đề tài. - Nghiên cứu các văn bản, tài liệu của Đảng, nhà nƣớc về việc làm và tạo việc làm cho ngƣời dân vùng đô thị hóa. Nghiên cứu thực tiễn - Nghiên cứu thực trạng nhu cầu việc làm của ngƣời dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng biểu hiện qua nhận thức, đối tƣợng hƣớng tới và hành động cụ thể để thỏa mãn nhu cầu việc làm của bản thân và gia đình.
- Đƣa ra một số giải pháp tâm lý - xã hội giúp chính quyền địa phƣơng đƣa ra giải pháp tạo việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm của ngƣời dân. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đối tƣợng nghiên cứu Nhu cầu việc làm của ngƣời dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng đƣợc biểu hiện qua: Nhận thức, đối tƣợng hƣớng tới và hành động cụ thể để có việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm. Khách thể nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu là 162 ngƣời dân, trong đó 55 ngƣời dân ở huyện An Lão, 53 ngƣời dân ở huyện Tiên Lãng, 54 ngƣời dân ở huyện Vĩnh Bảo và 7 cán bộ địa phƣơng.
Phạm vi nghiên cứu 6. Phạm vi nội dung: Đề tài chỉ nghiên cứu nhu cầu việc làm của ngƣời dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng biểu hiện ở nhận thức, đối tƣợng hƣớng tới và hành động cụ thể để có việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm. Đồng thời nghiên cứu một số yếu tố ảnh hƣởng tới nhu cầu việc làm của ngƣời dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng. Phạm vi địa bàn: Đề tài chỉ nghiên cứu ở 3 huyện: Huyện An Lão, huyện Tiên Lãng, huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng.
Phạm vi khách thể: Đề tài chỉ nghiên cứu những ngƣời dân đang ở trong độ tuổi lao động (từ 18 đến 45 tuổi). Giả thuyết nghiên cứu Phần lớn ngƣời dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng có nhu cầu việc làm ở mức độ trung bình, một số ngƣời đạt mức độ cao nhƣng hầu hết trong số họ nhu cầu này chƣa đƣợc thỏa mãn thực sự. Việc thỏa mãn nhu cầu việc làm phụ thuộc rất nhiều yếu tố, bao gồm cả chủ quan (nhận thức, động cơ, hứng thú, tâm thế sẵn sàng…) và khách quan (điều kiện thỏa mãn, mức độ quan tâm của chính quyền địa phƣơng, chế độ đãi ngộ…), trong đó yếu tố chủ quan giữ vai trò chủ đạo. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Phƣơng pháp nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu tài liệu Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đề tài để tìm hiểu sâu hơn những khái niệm công cụ nhằm hoàn thiện cơ sở lý luận của đề tài. Phương pháp chuyên gia Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để nâng cao sự hiểu biết về lĩnh vực mà mình nghiên cứu cũng nhƣ cách thức tiến hành nghiên cứu. Phương pháp quan sát Phƣơng pháp này đƣợc chúng tôi sử dụng để thu thập những thông tin mà phiếu bảng hỏi chƣa làm đƣợc.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Chúng tôi sử dụng các câu hỏi đóng, câu hỏi mở nhằm thu thập thông tin chính, liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn. Phương pháp phỏng vấn sâu Để có thêm thông tin chân thực, rõ ràng và chính xác phục vụ việc nghiên cứu, chúng tôi đƣa ra một số câu hỏi phỏng vấn sâu ngƣời dân và chính quyền địa phƣơng. Phương pháp nghiên cứu chân dung tâm lý. Phƣơng pháp này đƣợc thực hiện nhằm phản ánh rõ nét hơn về mức độ nhu cầu việc làm của ngƣời dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng và nguyên nhân của mức độ đó.
Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học Chúng tôi sử dụng công thức tính trung bình, tính phần trăm và sử dụng phần mềm SPSS để phân tích, xử lí kết quả thu đƣợc từ phiếu điều tra bằng bảng hỏi. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU VÀ NHU CẦU VIỆC LÀM 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về nhu cầu và nhu cầu việc làm của các nhà tâm lý học ngoài nƣớc.
Chủ nghĩa hành vi do nhà tâm lý hoc Mỹ J.Watson (1878 - 1895) sáng lập và đƣợc Skinner phát triển triệt để. Tâm lý học hành vi cho rằng: Tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi cơ thể. Hành vi đƣợc hiểu là tổng số các cử động bên ngoài, nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp ứng lại một kích thích nào đó, nó đƣợc thể hiện bằng công thức hành vi nổi tiếng S - R. Do vậy, mọi vấn đề tâm lý nhƣ ý thức, tƣ tƣởng, tình cảm, ý chí, nhu cầu, động cơ… đều là những khái niệm mơ hồ, không ai nhìn thấy đƣợc, không ai sờ thấy đƣợc và cũng không ai đo đếm đƣợc.
Tất cả chúng đều là phi vật chất và không thể quyết định đƣợc một hiện tƣợng vật chất. Song nếu xét về thực chất, ngay từ đầu thế kỉ 19, các tác giả nhƣ Wkoler, Ethordike, NE.Miller đã có những thí nghiệm nghiên cứu về nhu cầu ở động vật và khẳng định: Các kiểu hành vi của con vật đƣợc thúc đẩy bởi nhu cầu (bằng việc đƣa ra “luật hiệu ứng” và giả thuyết về mối liên hệ kích thích - phản ứng), từ đó kết luận: Nhu cầu có thể quyết định hành vi. Sau này, các đại biểu tâm lý hoc hành vi mới đƣa vào công thức S - R một biến số O - biến số trung gian đó là: Nhu cầu, trạng thái chờ đón, kinh nghiệm sống… các tác giả này giải thích rằng: O là biến số trung gian có tác dụng điều chỉnh đáp ứng phù hợp với các kích thích vào cơ thể. Xét về mặt quan điểm: Các nhà tâm lý học hành vi không coi nhu cầu thuộc về tâm lý nhƣng trên thực tế các thực nghiệm đã chỉ ra các nhà 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tâm lý học hành vi nghiên cứu khá rõ và kĩ về nhu cầu, đặc biệt là những nhu cầu cụ thể, nhu cầu sinh lý.
Clack Hull với thuyết xung năng theo hƣớng tiếp cận sinh học cho rằng: Các nhu cầu sinh lý chi phối đời sống con ngƣời mặc dù ông không phủ định sự có mặt của những nhu cầu, động cơ khác. Về bản chất, thuyết xung năng đã sinh vật hóa nhu cầu của con ngƣời. Xem nhu cầu nhƣ là xung năng mang tính sinh vật, nảy sinh từ sự thiếu hụt thức ăn, nƣớc uống, không khí, nguy hiểm… qua đó phủ nhận tính xã hội, bản chất xã hội của nhu cầu. Quy gán: nhu cầu nội tâm và nhu cầu xã hội đều do nhu cầu sinh vật tạo ra.
Trong lý thuyết phân tâm của mình, Freud (1856 - 1939) đã đề cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý thuyết bản năng của con ngƣời”. Ông khẳng định, Phân tâm học coi trọng nhu cầu tự do cá nhân nhƣ các nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục.