Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Lê Duy Hùng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Mạc Văn Trang, thuộc chuyên ngành Tâm lý học (mã số: 9.01) tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2018).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nhu cầu được xác định là đòi hỏi tất yếu khách quan của con người nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hội nhập quốc tế, sự xuất hiện của nhiều ngành nghề mới đòi hỏi học sinh trung học phổ thông (THPT) phải có sự định hướng nghề nghiệp khoa học. Lứa tuổi học sinh THPT còn thiếu kinh nghiệm sống và khả năng tự đánh giá chính xác bản thân. Tình trạng chọn nghề không phù hợp dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực; thực tế năm học 2015 – 2016 tại TP.HCM đã ghi nhận hàng ngàn sinh viên bị cảnh cáo học vụ và buộc thôi học. Các số liệu trích dẫn trong luận án chỉ ra 34% trường hợp sinh viên chọn nhầm nghề, 42% chỉ phù hợp gượng ép, và tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp thất nghiệp do không phù hợp với nghề lên đến 90%.
Thực tế công tác tư vấn hướng nghiệp (TVHN) tại các nhà trường và trung tâm giáo dục hiện nay chủ yếu dừng lại ở việc cung cấp thông tin tuyển sinh mang tính bề nổi:
- Giới thiệu các ngành nghề khác nhau trong xã hội (57,9%).
- Giới thiệu quy trình nộp đơn thi (49,6%).
- Giới thiệu các chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề (48,8%).
Hoạt động TVHN hiện tại chưa đi sâu vào việc đánh giá tâm lý, trắc nghiệm nhân cách và đối chiếu năng lực cá nhân với yêu cầu nghề. Mặc dù TP.HCM là trung tâm kinh tế - văn hóa lớn với khả năng tiếp cận thông tin thuận lợi, học sinh vẫn gặp nhiều lúng túng trong chọn ngành, chọn nghề do thiếu các nghiên cứu hệ thống về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp (NCTVHN) từ góc độ tâm lý học. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xác định toàn diện nhu cầu của học sinh về nội dung, hình thức và phẩm chất của nhà tư vấn, đồng thời tiến hành thực nghiệm tác động tâm lý.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về NCTVHN của học sinh THPT, các yếu tố chủ quan và khách quan tác động; từ đó đề xuất và thực nghiệm các biện pháp tổ chức hoạt động TVHN nhằm đáp ứng nhu cầu này.
Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về nhu cầu và NCTVHN của học sinh THPT.
- Xây dựng cơ sở lý luận tâm lý học về NCTVHN của học sinh THPT (khái niệm, biểu hiện, mức độ, các yếu tố ảnh hưởng).
- Khảo sát, đánh giá thực trạng NCTVHN của học sinh THPT và những yếu tố ảnh hưởng ở ba lĩnh vực cơ bản: nội dung tư vấn, hình thức tư vấn và người làm công tác TVHN; lý giải nguyên nhân thực trạng.
- Đề xuất và tổ chức thực nghiệm một số biện pháp tác động nhằm nâng cao nhận thức và đáp ứng NCTVHN của học sinh THPT.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện và mức độ NCTVHN của học sinh THPT.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba khía cạnh của NCTVHN (nội dung tư vấn về thế giới nghề, thị trường lao động và đặc điểm tâm sinh lý cá nhân; hình thức tư vấn; tiêu chuẩn nhà tư vấn), các yếu tố ảnh hưởng và thực nghiệm tác động.
- Phạm vi không gian (Địa bàn khảo sát): 05 trường THPT trên địa bàn TP.HCM:
- Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ (Quận 4).
- Trường THPT Nguyễn Trãi (Quận 10).
- Trường THPT Trí Đức (Quận Tân Phú).
- Trường THPT Bình Tân (Quận Bình Tân).
- Trường THPT Bình Chánh (Huyện Bình Chánh).
- Khách thể nghiên cứu: Tổng số mẫu khảo sát thực trạng gồm 713 học sinh THPT. Mẫu điều tra chính thức gồm 421 học sinh THPT (183 nam, 238 nữ), 117 giáo viên/chuyên viên tham vấn tâm lý học đường, và 123 cha mẹ học sinh (CMHS). Mẫu điều tra thăm dò gồm 52 học sinh, 9 giáo viên và 8 CMHS. Mẫu thực nghiệm tác động được triển khai tại trường THPT Trí Đức.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm xu hướng chính:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ NGHIÊN CỨU VIỆT NAM
- Thăm dò nghề nghiệp - Thăm dò bản thân & nghề
(Dupont & Gingras, Gati & Saka, (Hoàng Kiện, Phạm Tất Dong,
Tanveer-Uz-Zaman, Crisan...) Mạc Văn Trang, Nguyễn Đức Trí)
- Lập kế hoạch nghề nghiệp - Xu hướng & kế hoạch nghề
(Super, Erickson, Hiebert, (Phan Thị Tố Oanh, Nguyễn Ngọc Tài,
Alexitch & Page, Julien...) Phạm Văn Hải, Quang Dương...)
- Ra quyết định & chương trình TVHN - Quy trình TV & giải pháp
(Fouad et al., Dogar et al., (Trần Khánh Đức, Đặng Danh Ánh,
Răduleţ, Savickas, Arnett...) Lê Thị Thanh Hương, Mai Ngọc Luông...)
Các công trình nghiên cứu trên thế giới
-
Xu hướng nghiên cứu theo hướng thăm dò nghề nghiệp:
- Dupont & Gingras (1991), Super (1990), Gati & Saka (2001), Julien (1999), Taveira et al. (1998) khẳng định thăm dò nghề nghiệp là giai đoạn tạo căng thẳng tâm lý, thúc đẩy cá nhân tìm kiếm sự trợ giúp.
- Định nghĩa của UNESCO (2000) và Tanveer-Uz-Zaman Choudhary, But (2014) xem định hướng nghề nghiệp là quá trình hỗ trợ cá nhân tự nhận thức điểm mạnh, điểm yếu, sở thích và giá trị để tự ra quyết định.
- Makinde (1993), Paul (2013), Martinez & Dănălache (2008) chỉ ra tư vấn nghề nghiệp giúp giảm chi phí xã hội và tạo việc làm bền vững cho thanh niên.
- Hutchinson & Bottorff (1986) ghi nhận 89% học sinh trung học xem tư vấn nghề nghiệp là ưu tiên hàng đầu, nhưng chỉ 40% thực sự nhận được dịch vụ.
- Lewis (1981), Blustein (1989), Crisan, Pavelea, Ghimbulut (2015) phân tích các nguồn thông tin thăm dò (Internet, truyền hình, báo chí, gia đình, bạn bè) và chỉ ra hạn chế do học sinh thiếu kỹ năng sàng lọc thông tin.
-
Xu hướng nghiên cứu nhu cầu tư vấn lập kế hoạch nghề nghiệp:
- Super (1990), Erickson (1966) xác định việc tìm kiếm thông tin và nhận thức lợi ích nghề nghiệp là nhiệm vụ phát triển chính ở giai đoạn cuối vị thành niên.
- Hiebert et al. (1998, 2001) chỉ ra 3 trong 5 nhu cầu hàng đầu của học sinh liên quan đến nghề nghiệp và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá trực tiếp nhu cầu người học.
- Bregman & Killen, Blustein et al. (1991), Morrow (1995), Middleton & Loughead (1993), Felsman & Blustein (1999) phân tích ảnh hưởng hai mặt từ gia đình và bạn bè đến sự tự chủ trong lập kế hoạch nghề.
- Alexitch & Page (1997), Aluede & Imonikhe (2002), Tomini & Page (1992) ghi nhận mức độ không hài lòng của học sinh đối với dịch vụ tư vấn học đường hiện hành.
- Julien (1999) khảo sát 399 học sinh trung học Canada, ghi nhận 40% không biết tìm kiếm sự trợ giúp ở đâu, 59,7% gặp khó khăn khi tìm kiếm thông tin, 38,3% không rõ về môn học cần thiết, và 57% cần thông tin hỗ trợ tài chính.
-
Xu hướng nghiên cứu nhu cầu tư vấn quyết định nghề nghiệp và chương trình TVHN:
- Fouad et al. (2006) đánh giá nhu cầu tư vấn trên 3 phương diện: tính cần thiết, mức độ nhận thức và mức độ sử dụng dịch vụ.
- Dogar, Azeem, Majoka, Mehmood & Latif (2011) khảo sát 60 học sinh năm cuối, xác định nhu cầu nghề nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất (45%) trong 5 loại nhu cầu (giáo dục, dạy nghề, tình cảm, xã hội, hành vi).
- Răduleţ (2013) khảo sát 724 học sinh, làm rõ sự bối rối trong lựa chọn nghề và yêu cầu cấp thiết về dịch vụ hướng dẫn nghề nghiệp.
- Savickas (1999), Arnett (2000, 2004), Borgen (1991) phân tích khái niệm "sự trưởng thành nghề nghiệp" và vai trò trao quyền cho học sinh trong quá trình ra quyết định.
Các nghiên cứu tại Việt Nam
-
Xu hướng thăm dò bản thân và nghề nghiệp:
- Hoàng Kiện, Nguyễn Thế Trường, Phạm Tất Dong xây dựng mô hình "Miền chọn nghề tối ưu" dựa trên sự giao thoa giữa ba yếu tố: "Tôi thích làm nghề gì?" (hứng thú), "Tôi có thể làm nghề gì?" (năng lực), và "Tôi cần phải làm nghề gì?" (nhu cầu xã hội).
- Mạc Văn Trang (1991 - 1993) mô tả các đặc điểm tâm lý phù hợp với một số nghề cụ thể (y khoa, giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học, bán hàng, khảm trai) và các trắc nghiệm tương ứng.
- Nguyễn Đức Trí (2005) xác lập 4 cấu trúc nhân cách nghề nghiệp: xu hướng nghề nghiệp, năng lực nghề nghiệp, quá trình nhận thức/tính cách, và đặc điểm khí chất/sinh học.
-
Xu hướng nghiên cứu về kế hoạch và xu hướng lựa chọn nghề:
- Phan Thị Tố Oanh (1996) chỉ ra nhận thức nghề của học sinh THPT còn dừng ở biểu hiện bên ngoài và đề xuất mô hình "Tam giác hướng nghiệp".
- Nguyễn Ngọc Tài (2005) khảo sát thực trạng chọn ngành nghề của học sinh tại TP.HCM, chỉ ra sự thiếu hụt thông tin chính thống.
- Các tài liệu thực hành hướng nghiệp của Nguyễn Minh Nhựt, Phạm Văn Hải, Quang Dương, Nguyễn Chí Thu, Nguyễn Đăng Lập.
-
Xu hướng quy trình quyết định nghề nghiệp và giải pháp TVHN:
- Trần Khánh Đức (2010) đề xuất quy trình tư vấn nghề 3 bước: Đánh giá cá tính/năng lực qua trắc nghiệm; Phân tích yêu cầu nghề; Đối chiếu đặc điểm cá nhân với nghề.
- Đặng Danh Ánh xây dựng quy trình tư vấn nghề 7 bước (từ tìm hiểu nguyện vọng, đo đạc tâm lý, nghiên cứu thị trường lao động đến hướng dẫn chọn cơ sở đào tạo).
- Lê Thị Thanh Hương (2010) khảo sát 835 học sinh tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM, ghi nhận 78% học sinh đánh giá cần có cơ sở TVHN, 62,2% mong muốn hoạt động tư vấn diễn ra ở cấp THPT.
- Lý Ngọc Sáng (2003), Mai Ngọc Luông và cs (2006) phân tích thực trạng công tác hướng nghiệp học đường tại TP.HCM, kiến nghị thành lập các phòng tư vấn chuyên trách.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận TVHN dưới dạng hoạt động giáo dục một chiều hoặc khảo sát nguyện vọng nghề đơn thuần. Luận án của Lê Duy Hùng là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về NCTVHN như một nhu cầu nhận thức nội tại của học sinh THPT tại địa bàn TP.HCM, phân tích cấu trúc nhu cầu (nội dung, hình thức, phẩm chất nhà tư vấn) và đo lường tác động can thiệp tâm lý bằng thực nghiệm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
-
Lý luận về nhu cầu:
- Abraham Maslow: Thuyết thứ bậc nhu cầu (từ sinh lý, an toàn, xã hội, tôn trọng đến tự khẳng định; sau mở rộng thêm nhu cầu nhận thức, thẩm mỹ và siêu nghiệm).
- Kurt Lewin: Nhu cầu là động cơ xuất hiện trong vùng cá nhân nội tại, tạo ra trạng thái căng thẳng thúc đẩy hoạt động.
- S. Rubinstein, A.N. Leontiev: Nhu cầu luôn có tính đối tượng; đối tượng bộc lộ trong quá trình hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu.
- B.F. Lomov, P.A. Rudik, Phạm Minh Hạc, Vũ Dũng, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Quang Uẩn: Định nghĩa nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu khách quan của cá nhân đối với các điều kiện tồn tại và phát triển.
- A.G. Covaliov (phân loại nhu cầu vật chất, tinh thần, xã hội), Steven Reiss (hệ thống 16 nhu cầu cơ bản).
-
Lý luận về tư vấn và tư vấn hướng nghiệp:
- Định nghĩa tư vấn: E. Schein (1969), Larry Greiner & Robert Metzger, D. Riesman (1963), Trần Thị Minh Đức (2011), Trần Thị Giồng. Tư vấn là quá trình tương tác chuyên môn giúp thân chủ nhận thức tiềm năng và tự giải quyết vấn đề.
- Định nghĩa hướng nghiệp: Hội nghị Lahabana (1980) và mô hình "Tam giác hướng nghiệp" của K.K. Platonov gồm 3 đỉnh: (1) Đặc điểm/yêu cầu nghề trong xã hội; (2) Nhu cầu nhân lực của thị trường lao động; (3) Đặc điểm tâm - sinh lý cá nhân. Ba đỉnh này tương ứng với 3 hoạt động: định hướng nghề, tư vấn nghề và tuyển chọn nghề.
- Frank Parsons (1909): Mô hình 3 phần (hiểu mình, hiểu nghề, lập luận kết hợp logic); Eli Ginzberg (1951), Figler & Bolles (2009), Phạm Tất Dong (2000), Đặng Danh Ánh.
-
Khái niệm NCTVHN của học sinh THPT (tác giả xác lập):
"NCTVHN là sự đòi hỏi tất yếu của học sinh cần được thỏa mãn về nội dung, hình thức, nhà tư vấn; trên cơ sở đó mỗi cá nhân có sự đối chiếu với những đặc điểm của bản thân để chọn cho mình một nghề phù hợp."
-
Cơ sở tâm lý học lứa tuổi và nhân cách:
- Tâm lý học phát triển: Lứa tuổi 15–18/19 tuổi có sự hoàn thiện về thể chất, phát triển tư duy trừu tượng, tự ý thức, và động cơ thành đạt.
- Tâm lý học nhân cách: Quan điểm của Gordon Allport về tính độc đáo nhân cách; Hans Eysenck về mô hình phân tích nhân tố hướng nội - hướng ngoại kết hợp 4 kiểu khí chất (Hippocrates - Galen).
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Công trình xây dựng trên 3 quan điểm phương pháp luận:
- Quan điểm hoạt động – nhân cách: Xem NCTVHN là thuộc tính gắn liền với xu hướng và năng lực của nhân cách, nảy sinh và biến đổi qua hoạt động.
- Quan điểm hệ thống: Đặt NCTVHN trong mối quan hệ đa chiều giữa nhu cầu thị trường, đặc điểm ngành nghề và đặc điểm cá nhân.
- Quan điểm xã hội – lịch sử: Gắn nghiên cứu với bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể của TP.HCM trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích lý thuyết, văn bản pháp quy, các công trình đi trước.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Công cụ chính thu thập dữ liệu định lượng trên mẫu diện rộng, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ. Kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach's Alpha.
- Phương pháp phỏng vấn sâu (PVS): Phỏng vấn cá nhân và nhóm đối với giáo viên, cán bộ quản lý, học sinh và cha mẹ học sinh.
- Phương pháp quan sát: Ghi nhận hành vi, thái độ của học sinh trong các buổi sinh hoạt hướng nghiệp.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Khảo sát sâu các trường hợp học sinh có trải nghiệm thực tế về NCTVHN.
- Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động: Đánh giá bài tập cá nhân, kế hoạch nghề nghiệp của học sinh.
- Phương pháp thực nghiệm tác động: Tổ chức tại trường THPT Trí Đức, áp dụng các hình thức: tư vấn cá nhân, tư vấn trực tiếp, tư vấn gián tiếp và tham quan thực tế.
- Phương pháp thống kê toán học: Tính điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định sai biệt và phân tích tương quan.
Nguồn tư liệu và mẫu khảo sát
| Nhóm khách thể |
Mẫu thăm dò (SL) |
Mẫu chính thức (SL) |
Ghi chú |
| Học sinh THPT |
52 |
421 |
183 nam, 238 nữ (Tổng mẫu khảo sát: 713 HS) |
| Giáo viên & Cán bộ tham vấn |
9 |
117 |
Giáo viên chủ nhiệm, quản lý, chuyên viên tâm lý |
| Cha mẹ học sinh (CMHS) |
8 |
123 |
Phụ huynh các khối lớp 10, 11, 12 |
| Tổng cộng |
69 |
661 |
Khảo sát tại 05 trường THPT trên địa bàn TP.HCM |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu nhu cầu tư vấn hướng nghiệp
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế và trong nước thành các luồng quan điểm rõ ràng. Tác giả chỉ ra rằng tại các quốc gia phát triển, NCTVHN đã được nghiên cứu gắn với các giai đoạn trưởng thành nghề nghiệp, thăm dò thị trường lao động và kiểm soát căng thẳng tâm lý khi đưa ra quyết định.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây tập trung nhiều vào lý luận giáo dục hướng nghiệp nói chung hoặc thống kê xu hướng chọn trường đại học. Điểm cốt lõi được rút ra là chưa có công trình nào đánh giá trực diện cấu trúc NCTVHN của học sinh THPT như một nhu cầu tâm lý tự thân trên địa bàn đô thị lớn như TP.HCM. Việc tổng quan này cung cấp cơ sở để luận án xác lập khung nghiên cứu tập trung vào 3 yếu tố: nội dung, hình thức và phẩm chất nhà tư vấn.
Chương 2: Cơ sở lý luận về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh trung học phổ thông
Chương 2 làm sáng tỏ bản chất tâm lý của NCTVHN. Tác giả phân tích các đặc trưng tâm lý lứa tuổi học sinh THPT (15–18 tuổi), giai đoạn xuất hiện động cơ chọn nghề rõ nét nhưng nhận thức còn mang tính chủ quan và dễ bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài.
Cấu trúc NCTVHN được phân rã thành các thành tố cụ thể:
- Nhu cầu về nội dung tư vấn:
- Hiểu biết về thị trường lao động (xu hướng phát triển ngành nghề, nhu cầu nhân lực, mức thu nhập).
- Hiểu biết về đặc điểm và yêu cầu của nghề (nội dung công việc, điều kiện lao động, phẩm chất chuyên môn).
- Hiểu biết về đặc điểm tâm - sinh lý cá nhân (năng lực, sở thích, tính cách, sức khỏe đối chiếu với nghề).
- Nhu cầu về hình thức tư vấn: Tư vấn trực tiếp (cá nhân, nhóm, tọa đàm), tư vấn gián tiếp (Internet, tài liệu, điện thoại), và hoạt động trải nghiệm/tham quan thực tế.
- Nhu cầu về nhà tư vấn: Yêu cầu về năng lực chuyên môn, sự am hiểu thế giới nghề, kỹ năng trắc nghiệm tâm lý và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp (lắng nghe, thấu cảm, bảo mật).
CẤU TRÚC NHU CẦU TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP
NỘI DUNG TƯ VẤN HÌNH THỨC TƯ VẤN NHÀ TƯ VẤN
- Thị trường lao động - Tư vấn trực tiếp - Trình độ chuyên môn
- Đặc điểm/yêu cầu nghề (cá nhân, nhóm) - Hiểu biết thế giới nghề
- Đặc điểm tâm - sinh lý - Tư vấn gián tiếp - Kỹ năng đo đạc tâm lý
bản thân (Internet, điện thoại) - Phẩm chất đạo đức
- Trải nghiệm thực tế (thấu cảm, bảo mật)
Chương này cũng phân định rõ hệ thống các yếu tố ảnh hưởng, bao gồm nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức nghề, học lực, giới tính, động cơ cá nhân) và nhóm yếu tố khách quan (gia đình, nhà trường, truyền thông xã hội, bối cảnh kinh tế - xã hội địa phương).
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh trung học phổ thông
Chương 3 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu:
- Xây dựng hệ thống tiêu chí, chỉ báo đo lường NCTVHN qua 3 khía cạnh: nội dung, hình thức và nhà tư vấn.
- Thang đo được thiết kế theo thang Likert 5 mức độ (tương ứng với thang điểm từ 1 đến 5). Kiểm định độ tin cậy Alpha cho thấy các phép đo đạt tiêu chuẩn thống kê.
- Quy trình tổ chức khảo sát thực trạng trên 421 học sinh, 117 giáo viên và 123 phụ huynh tại 05 trường THPT (Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Trãi, Trí Đức, Bình Tân, Bình Chánh).
- Thiết kế mô hình thực nghiệm tác động tâm lý tại trường THPT Trí Đức nhằm thay đổi nhận thức và kích hoạt tính tích cực của học sinh đối với hoạt động TVHN thông qua quy trình 4 bước kết hợp tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm, trắc nghiệm tâm lý và tham quan thực tế nghề nghiệp.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 4 cung cấp hệ thống số liệu định lượng và phân tích định tính về thực trạng NCTVHN:
- Đánh giá chung về thực trạng: Đa số học sinh THPT tại TP.HCM có NCTVHN ở mức độ tương đối cao, tuy nhiên nhu cầu này còn mang tính chung chung, chưa cụ thể và chưa có tính cấp thiết rõ ràng.
- Thực trạng nhu cầu về nội dung:
- Học sinh có nhu cầu cao nhất về việc tìm hiểu thông tin tuyển sinh và các nghề có thu nhập cao.
- Nhu cầu tìm hiểu sâu về đặc điểm tâm sinh lý bản thân phù hợp với nghề và dự báo nhu cầu thị trường lao động dài hạn chưa được học sinh nhận thức đầy đủ.
- Có sự phân hóa rõ rệt về NCTVHN theo tiêu chí khối lớp (học sinh lớp 12 có nhu cầu cấp thiết hơn lớp 10, 11), giới tính và học lực.
- Thực trạng nhu cầu về hình thức và nhà tư vấn: Học sinh mong muốn các hình thức tư vấn trực tiếp, tương tác cá nhân kết hợp trải nghiệm thực tế thay vì hình thức thuyết trình một chiều; đòi hỏi nhà tư vấn phải có chứng chỉ chuyên môn và am hiểu thực tế tuyển dụng.
- Các yếu tố ảnh hưởng:
- Phân tích tương quan cho thấy nhận thức của bản thân học sinh và ảnh hưởng của gia đình (định hướng của cha mẹ) là hai yếu tố tác động mạnh nhất đến NCTVHN.
- Hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường hiện tại chưa đáp ứng kịp thời kỳ vọng của học sinh do thiếu chuyên viên chuyên trách.
- Kết quả thực nghiệm tác động tâm lý:
- So sánh đối chứng trước thực nghiệm (TTN) và sau thực nghiệm (STN) tại trường THPT Trí Đức cho thấy có sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức của học sinh đối với tính cấp thiết của TVHN.
- Học sinh sau thực nghiệm đã chuyển từ nhu cầu tìm kiếm thông tin chung chung sang nhu cầu tự đối chiếu năng lực, phẩm chất cá nhân với yêu cầu cụ thể của từng ngành nghề.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Bổ sung và làm phong phú thêm hệ thống lý luận tâm lý học về nhu cầu nói chung và NCTVHN của học sinh THPT trong tâm lý học hướng nghiệp nói riêng.
- Xác định rõ khái niệm, cấu trúc thành tố (nội dung, hình thức, nhà tư vấn) và bộ tiêu chí đánh giá mức độ NCTVHN của học sinh THPT.
- Gắn kết chặt chẽ lý luận NCTVHN với mô hình "Tam giác hướng nghiệp", chỉ ra bản chất của TVHN là hoạt động tương tác tâm lý trợ giúp học sinh đạt đến sự phù hợp giữa nhân cách và thế giới nghề nghiệp.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Phác thảo bức tranh thực trạng về NCTVHN của học sinh THPT tại địa bàn đô thị phát triển (TP.HCM); chỉ ra mâu thuẫn giữa mức độ nhu cầu cao trên lý thuyết với sự thụ động, mơ hồ trong hành vi tìm kiếm hỗ trợ tư vấn thực tế của học sinh.
- Xác định các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến hạn chế trong chọn nghề của học sinh, làm rõ mức độ tác động của các yếu tố chủ quan (nhận thức, hứng thú, năng lực) và khách quan (gia đình, nhà trường, truyền thông xã hội).
- Khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp can thiệp tâm lý được kiểm chứng qua thực nghiệm tại trường THPT Trí Đức; chứng minh rằng khi NCTVHN được cụ thể hóa thông qua tương tác trực tiếp và trải nghiệm, tính chủ động chọn nghề của học sinh sẽ tăng lên.
- Cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản lý giáo dục trong việc đổi mới chương trình hướng nghiệp, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ tư vấn và nhân rộng mô hình phòng tư vấn hướng nghiệp học đường tại các trường THPT.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với các cơ quan quản lý giáo dục (Sở GD&ĐT TP.HCM): Cần xây dựng cơ chế chính sách thành lập và vận hành các phòng TVHN chuyên trách trong trường THPT; ban hành chuẩn nghiệp vụ cho chuyên viên TVHN học đường.
- Đối với các trường THPT: Chuyển đổi phương thức hướng nghiệp từ cung cấp thông tin tuyển sinh thụ động sang đánh giá tâm lý chuyên sâu; đa dạng hóa hình thức tư vấn (kết hợp trắc nghiệm tính cách, tư vấn nhóm, trải nghiệm thực tế).
- Đối với gia đình và xã hội: Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, tôn trọng hứng thú và năng lực thực tế của học sinh, tránh áp đặt định kiến nghề nghiệp lên con cái.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Về phạm vi khảo sát: Nghiên cứu thực trạng mới chỉ thực hiện trên 05 trường THPT tại TP.HCM, chưa bao quát toàn diện các loại hình trường chuyên biệt hoặc toàn bộ các quận/huyện vùng ven.
- Về phạm vi thực nghiệm: Do những khó khăn về thủ tục hành chính, nghiên cứu thực nghiệm tác động tâm lý chỉ mới được triển khai trên nhóm khách thể thuộc một trường duy nhất là Trường THPT Trí Đức.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô khảo sát và can thiệp thực nghiệm trên nhiều nhóm đối tượng học sinh ở các khu vực địa lý, vùng miền và các loại hình trường học khác nhau.
- Nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) về sự thành công và mức độ thích ứng nghề nghiệp của học sinh sau khi đã tham gia các chương trình TVHN trong suốt quá trình học đại học và tham gia thị trường lao động.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cán bộ quản lý giáo dục và Ban Giám hiệu các trường THPT: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn để định hình chính sách giáo dục hướng nghiệp và xây dựng mô hình phòng tư vấn tâm lý - hướng nghiệp trong trường học.
- Chuyên viên tham vấn tâm lý học đường và Giáo viên chủ nhiệm: Cung cấp khung phân tích nhu cầu, quy trình đánh giá tâm lý và các biện pháp can thiệp nhằm trợ giúp học sinh giải quyết khó khăn trong chọn nghề.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Tâm lý học, Giáo dục học: Bổ sung tư liệu lý luận về tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học hướng nghiệp và phương pháp thiết kế nghiên cứu thực nghiệm tâm lý.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án vận dụng mô hình "Tam giác hướng nghiệp" của K.K. Platonov như thế nào?
Luận án vận dụng mô hình tam giác của K.K. Platonov gồm 3 cạnh tương ứng với 3 yếu tố cốt lõi:
- Đặc điểm, yêu cầu của các ngành/nghề trong xã hội.
- Nhu cầu nhân lực của thị trường lao động.
- Đặc điểm tâm lý và sinh lý của cá nhân.
Sự kết hợp giữa 3 cạnh này tạo nên 3 hoạt động chuyên môn: định hướng nghề (kết hợp yếu tố 1 và 2), tư vấn nghề (kết hợp yếu tố 1 và 3), và tuyển chọn nghề (kết hợp yếu tố 2 và 3). Đây là cơ sở để luận án xác định nội dung TVHN cần trợ giúp học sinh.
2. Mẫu khách thể khảo sát chính thức của luận án gồm những đối tượng nào?
Mẫu khảo sát chính thức gồm 661 khách thể tại TP.HCM, bao gồm:
- 421 học sinh THPT (183 nam và 238 nữ) thuộc các khối lớp 10, 11, 12 tại 05 trường THPT.
- 117 giáo viên và người làm công tác tham vấn tâm lý trường học.
- 123 cha mẹ học sinh.
3. Thực nghiệm tác động tâm lý được triển khai ở đâu và sử dụng những hình thức nào?
Do khó khăn về thủ tục hành chính, thực nghiệm tác động được triển khai tập trung tại Nhóm khách thể thuộc Trường THPT Trí Đức (Quận Tân Phú, TP.HCM). Các hình thức can thiệp thực nghiệm bao gồm: tư vấn cá nhân, tư vấn trực tiếp, tư vấn gián tiếp và tổ chức cho học sinh tham quan thực tế nghề nghiệp.
4. Luận án chỉ ra thực trạng đáng chú ý nào về nhu cầu tư vấn của học sinh THPT tại TP.HCM?
Thực trạng cho thấy phần lớn học sinh THPT có NCTVHN ở mức độ cao nhưng nhận thức còn chung chung và chưa thấy tính cấp thiết. Học sinh chủ yếu quan tâm đến các nghề có thu nhập cao và thông tin tuyển sinh điểm số, trong khi chưa có nhu cầu rõ ràng về việc tự đánh giá năng lực, hứng thú tâm lý cá nhân và tìm hiểu nhu cầu lao động thực tế của xã hội.
5. Khái niệm "Miền chọn nghề tối ưu" được trích dẫn giải quyết những vấn đề gì?
Khái niệm "Miền chọn nghề tối ưu" (theo Hoàng Kiện, Nguyễn Thế Trường, Phạm Tất Dong) xác định vị trí chọn nghề đúng đắn khi học sinh giải quyết được sự giao thoa giữa 3 câu hỏi:
- Tôi thích làm nghề gì? (đại diện cho hứng thú cá nhân).
- Tôi có thể làm nghề gì? (đại diện cho năng lực, phẩm chất bản thân).
- Tôi cần phải làm nghề gì? (đại diện cho nhu cầu nhân lực của xã hội và thị trường lao động).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Duy Hùng đã giải quyết một cách khoa học vấn đề nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh THPT tại TP.HCM từ góc độ tâm lý học chuyên sâu. Công trình đã làm rõ cơ sở lý luận, xác lập cấu trúc NCTVHN gồm ba thành tố (nội dung, hình thức, nhà tư vấn) và đo lường thực trạng trên mẫu khách thể đa dạng. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự cần thiết phải chuyển dịch mô hình hướng nghiệp học đường từ cung cấp thông tin tuyển sinh đơn thuần sang tư vấn tâm lý chuyên sâu gắn với đánh giá năng lực bản thân. Các biện pháp tác động được kiểm chứng qua thực nghiệm tại trường THPT Trí Đức cung cấp căn cứ thực tiễn quan trọng cho việc nâng cao chất lượng công tác tư vấn hướng nghiệp trong trường phổ thông hiện nay.