CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề 1. Những nghiên cứu hoạt động hướng nghiệp nước ngoài Hướng nghiệp nói chung và giáo dục hướng nghiệp từ lâu đã được các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Khái niệm “hướng nghiệp” chính thức được sử dụng rộng rãi từ những năm 40 của thế kỉ XX sau Hội nghị Quốc tế về Tâm lý học tại Tây Ban Nha.
Cuối những năm 20 của thế kỷ XX, xuất hiện hàng loạt những cơ quan chuyên môn về hướng nghiệp ở các nước Đức, Pháp, Anh, Ý và cùng với nó là các nghiên cứu của các nhà khoa học về lĩnh vực mới mẻ và hấp dẫn này, có thể kể đến một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu như: Vào những năm 1960, các nhà khoa học như E. thuộc Liên Xô (cũ) cũng có những nghiên cứu về hướng nghiệp, chủ yếu tập trung vào hứng thú nghề nghiệp, động cơ chọn nghề, các giá trị về nghề mà HS quan tâm, đồng thời đưa ra những chỉ dẫn để giúp HS chọn nghề tốt hơn. Worswick thực hiện nghiên cứu “Vocational education in Thailand: a study of choice and returns” [47]. Nghiên cứu này bổ sung thêm bằng chứng mới khẳng định vai trò của giáo dục nghề nghiệp, đồng thời chỉ ra thực trạng và một số giải pháp cải thiện giáo dục nghề nghiệp ở Thái Lan.
Nghiên cứu “The infuences and motivation on which students base their choice of career” của Bromley H. Kniveton, trên cơ sở khảo sát 384 HS trong độ 14 đến 18 tuổi đã chỉ ra rằng cả gia đình và nhà trường đều ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên, và giáo viên cũng có thể khuyến khích học sinh thông qua việc xác định sở thích và các năng khiếu bẩm sinh của trẻ [37]. 8 Trong hướng nghiệp, mảng tư vấn hướng nghiệp hay tư vấn nghề cũng được nhiều tác giả nghiên cứu. Khi bàn về tầm quan trọng của tư vấn hướng nghiệp nói riêng và hướng nghiệp nói chung Jenniffer Curry (2013) cho rằng tư vấn hướng nghiệp đóng vai trò rất quan trọng và việc khai thác được thế mạnh sẽ góp phần thành công trong sự nghiệp của cá nhân đó [40].
Theo Brown (2012) trong “Career Development and Counseling”, công việc có thể có ý nghĩa tâm lý rất lớn trong cuộc sống của mỗi cá nhân bởi họ đã dành rất nhiều thời gian và công sức cho công việc. Bên cạnh đó, tư vấn hướng nghiệp sẽ góp phần ngăn ngừa hoặc khắc phục các vấn đề liên quan đến nghề nghiệp cho các cá nhân nếu họ thật sự phù hợp với công việc hiện tại. Như vậy, sự nghiệp và công việc thường được xem là một phần quan trọng trong cuộc sống của mỗi người và hướng nghiệp có thể mang đến giá trị và hữu ích thực sự thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và giải quyết hiệu quả các vấn đề liên quan đến công việc [38]. Năm 2018, các nhà nghiên cứu R.
Nielsen thực hiện đề tài “Apprentice or student? The structures of construction industry vocational education and training in Denmark and Sweden and their possible consequences for safety learning” [44]. Nghiên cứu đã thực hiện so sánh giữa học nghề và học cao đẳng, đại học ở Đan Mạch và Thuỵ Điển. Bài báo đặc biệt nhấn mạnh vai trò của việc phân luồng trong giáo dục hướng nghiệp. Năm 2020, các nhà nghiên cứu người Indonesia đã thực hiện nghiên cứu “Vocational education in indonesia: history, development, opportunities, and challenges” [46].
Bài báo mô tả toàn diện những thăng trầm của giáo dục nghề nghiệp ở Indonesia, bao gồm lịch sử, sự phát triển, cơ hội và thách thức của nó. Đây là một trong những nghiên cứu khá đầy đủ về giáo dục hướng nghiệp tại Indonesia bởi dữ liệu được lấy từ các hiệu trưởng, học sinh và giáo viên của 9 các trường trung học dạy nghề. Hơn nữa, lấy mẫu có chủ đích đã được chọn để thu thập dữ liệu, đưa ra một quần thể mẫu bao gồm 44 hiệu trưởng, 152 giáo viên và 202 học sinh. Sự phát triển của giáo dục nghề nghiệp đã được thay đổi vào năm 2008.
Họ đã học các cách tiếp cận có xu hướng lý thuyết và ít phù hợp hơn với thị trường lao động. Ngoài ra, 74% học sinh cảm thấy nhàm chán trong quá trình học do quá nhiều bài học xã hội. Một số thách thức phải đối mặt là cơ sở vật chất, giáo viên thiếu thốn. Kuncoro thực hiện nghiên cứu “Improving competitiveness through vocational and higher education: Indonesia's vision for human capital development in 2019–2024” [45].
Nghiên cứu đã đưa ra một số biện pháp phát triển nguồn nhân lực thông qua phân luồng giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Qianling Li thực hiện nghiên cứu “Analysis and practice on the training of key ability of students majoring in electronic information in higher vocational education”, Urban Vocational College of Sichuan, No. 351, middle Honghe Road, Chengdu 610010, China, Available online 19 April 2021, Version of Record 19 April 2021 [43]. Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng trong những năm gần đây, các trường cao đẳng nghề đã phát triển nhanh chóng và đã đào tạo ra một số lượng lớn các tài năng công nghệ thông tin và điện tử, tuy nhiên tỷ lệ tương ứng chuyên nghiệp của các trường cao đẳng nghề còn thấp.
Tình trạng “thất nghiệp” và “nhầm việc” trong sinh viên các trường cao đẳng nghề và kỹ thuật cao đẳng, doanh nghiệp không tuyển được nhân tài phù hợp vị trí trong thị trường việc làm hiện nay. Bên cạnh chất lượng nghề nghiệp của sinh viên cao đẳng nghề chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, một trong những nguyên nhân chính của mâu thuẫn này là do chưa khai thác được các năng lực then chốt. Vì vậy, các trường cao đẳng nghề phải nhận thức được rằng việc phát triển các năng lực chính của sinh viên là rất quan trọng đối với 10 sự trưởng thành của sinh viên và sự phát triển của nhà trường. Trường cao đẳng nghề cần lấy việc phát triển năng lực chủ đạo của học sinh là một trong những nhiệm vụ dạy học quan trọng để nâng cao chất lượng toàn diện của học sinh.
Như vậy, tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới về hoạt động hướng nghiệp, bên cạnh những mặt đạt được trên, các nghiên cứu vẫn cho thấy điểm hạn chế khi chưa có sự đánh giá, phân tích toàn diện về việc áp dụng trong thực tiễn hoạt động trường học, đặc biệt là ở các trường trung học phổ thông. Những nghiên cứu hoạt động hướng nghiệp trong nước Ở Việt Nam, khái niệm hướng nghiệp được đề cập trong giáo dục từ những năm 60 của thế kỉ XX. Trong thời kỳ đầu, giáo dục hướng nghiệp gắn liền với giáo dục lao động, để qua đó giáo dục cho học sinh thái độ sẵn sàng bước vào các hoạt động lao động nghề nghiệp. Cuối 1985 sau khi cuốn “Tuổi trẻ và nghề nghiệp” xuất hiện thì tư vấn nghề có một tài liệu có giá trị làm cơ sở để thực hiện các hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông [5].
Đây là công trình nghiên cứu, mô tả và phân tích đặc điểm và yêu cầu tâm sinh lý của hơn 30 nghề đào tạo phổ biến ở đất nước ta. Năm 1992, Bộ giáo dục và đào tạo thực hiện tập huấn tư vấn nghề cho học sinh phổ thông với bộ “Tài liệu tập huấn tư vấn nghề cho học sinh phổ thông” [6] nhằm cung cấp cho các giáo viên, các cán bộ hướng nghiệp những kiến thức cần thiết để thực hiện tư vấn nghề cho học sinh như nội dung, phương pháp và qui trình tư vấn nghề để phát triển rộng rãi công tác này. Đặng Danh Ánh (2002) triển khai trong nghiên cứu“Hướng nghiệp trong trường phổ thông” đã chỉ ra rằng hoạt động hướng nghiệp ở trường phổ thông phải đáp ứng được 5 nhiệm vụ sau đây: Tổ chức cho học sinh làm quen với các ngành nghề trong xã hội; Tổ chức các hoạt động giáo dục nghề nghiệp để nâng cao ý thức chọn nghề; Tiến hành tổ chức các hoạt động tư vấn nghề cho học 11 sinh; Giúp học sinh tìm hiểu nhân cách của mình qua đó lựa chọn được lĩnh vực nghề phù hợp với năng lực và tính cách; Giáo dục học sinh có thái độ lao động đúng với mọi ngành nghề [1]. Năm 2005, tại Hội thảo về Tư vấn nghề do ĐHQG Hà Nội tổ chức tháng 01/2005, Đặng Danh Ánh đã đưa ra những quan điểm mới trong việc tổ chức các hoạt động hướng nghiệp cho học sinh, hướng nghiệp không chỉ được tiến hành ở tất cả các loại trường học mà còn thực hiện ở các cơ quan, các cơ sở sản xuất kinh doanh; không chỉ tiến hành với thế hệ trẻ mà còn tiến hành với cả người lớn tuổi không có nghề hoặc vì lý do nào đó phải thay đổi nghề, lúc đó phải hướng nghiệp lại lần thứ hai, thứ ba [2].
Tiếp đó Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006) với nghiên cứu “Hoạt động hướng nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT” đã đề cập vấn đề thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam với những hình thức như phối hợp giữa nhà trường, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong hướng nghiệp cho học sinh [20]. Đặc biệt, bàn về việc đổi mới hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường, công trình “Hướng nghiệp ở trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh (2008) đã đi sâu nghiên cứu về việc cần thiết phải đổi mới HN và đã đưa ra các định hướng đổi mới như: đổi mới mục tiêu, phương thức, nội dung HN trong đó nhấn mạnh “HN là quá trình dạy học có chủ đích, phục vụ mục tiêu làm thay đổi một cách lâu bền vị thế của người học để họ có thể hoàn thành các yêu cầu nghề nghiệp” [9]. Tác giả Bùi Việt Phú (2009) đã nghiên cứu đề tài: “Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá”. Ở nghiên cứu này, tác giả Phú đã khẳng định HN nếu để một mình nhà trường THPT thực hiện kết quả không cao, mà cần huy động các lực lượng trong ngoài nhà trường 12 tham gia theo tinh thần xã hội hóa.
Tác giả khẳng định sự cần thiết phải tổ chức và quản lý hoạt động HN trong các trường phổ thông [30].