CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HƯỚNG NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp ở nước ngoài Hiện nay có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh trung học, trong đó yếu tố công tác tư vấn và giáo dục định hướng nghề nghiệp đối với học sinh của nhà trường là một trong các yếu tố quan trọng nhất. Hoạt động tư vấn, giáo dục hướng nghiệp cho HS tốt còn tác động tích cực đến quá trình phấn đấu học tập của HS trung học nhằm đáp ứng được yêu cầu của nghề nghiệp được định hướng và chọn lựa.
Có rất nhiều nghiên cứu nước ngoài đã tìm hiểu về lý thuyết, quan điểm, thực trạng tư vấn hướng nghiệp cho học sinh. Trên cơ sở nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý học về TVHN trên thế giới, chúng tôi nhận thấy có 3 hướng nghiên cứu lớn: Hướng nghiên cứu lý thuyết, quan điểm tiếp cận, hướng nghiên cứu về thực hành; hướng nghiên cứu và đào tạo những người tư vấn hướng nghiệp. Nghiên cứu về lý thuyết, quan điểm tiếp cận Theo một số nhà tâm lý học Việt Nam, hiện nay có 2 cách thức cơ bản nhất trong tư vấn hướng nghiệp: Phân loại dựa trên đặc tính cá nhân và đặc điểm ngành nghề, sàng lọc dựa trên từng giai đoạn đào tạo. Tư vấn hướng nghiệp dựa trên đặc điểm nhân cách Lý thuyết mật mã Holland (Holland codes) thuộc loại kết hợp tính cách cá nhân cùng đặc trưng nghề nghiệp, đã phát triển từ nhà tâm lý học John Holland (1919-2008).
Ông là người 24 nhà tư vấn hướng nghiệp cá nhân hàng đầu thế giới và nhắc đến nhiều nhất trong lĩnh vực tâm lý học chọn lựa nghề nghiệp. Lý thuyết của ông được xếp trong 0,1% các lý thuyết được trích dẫn nhiều nhất. Sau ông, các nhà tâm lý học tại tổ chức ACT, Mỹ nghiên cứu ra Bản đồ thế giới nghề nghiệp giúp người được hướng nghiệp có thể lựa chọn khu vực ngành nghề phù hợp. 7 Lý thuyết mật mã Holland được ứng dụng phổ biến cho người đang tìm kiếm sở thích, năng lực nghề nghiệp của mình nên có vai trò lớn trong cộng đồng TVV cũng như NĐTV.
Thông qua việc ứng dụng kết quả nghiên cứu của phương pháp Holland (trắc nghiệm tính cách) , NĐTV sẽ nhận thức tốt thêm về bản thân, xác định rõ bản thân thuộc nhóm nào (hoặc các nhóm khác) và có cơ sở để so sánh sở thích, năng lực của mình với những yêu cầu của từng nghề nghiệp trong nhóm sở thích đã lựa chọn. Từ đó, đưa ra định hướng nghề nghiệp hoặc cân nhắc lựa chọn trường đào tạo và việc làm tương lai. Mỗi người sẽ thấy mình có sự tương đồng với một hoặc một vài nhóm trong 6 nhóm kể trên. Việc tìm ra các nhóm Holland của bản thân có thể hỗ trợ các bạn phần nào trong công tác chọn ngành, chọn nghề hoặc lên kế hoạch học tập phù hợp.
Tư vấn hướng nghiệp dựa trên các giai đoạn phát triển Nhóm nghiên cứu này được thực hiện dựa trên các giai đoạn cuộc đời của con người với giả định rằng, những yếu tố chi phối sự phát triển và lựa chọn nghề nghiệp của mỗi người liên hệ mật thiết với từng bước hình thành tính cách và tâm lý của họ. Nhóm nghiên cứu này dùng 5 giai đoạn cuộc đời (giai đoạn hình thành, giai đoạn khám phá, giai đoạn phát triển, giai đoạn ổn định và giai đoạn sụt giảm) nhằm mô tả quá trình lựa chọn nghề nghiệp, để có một cái nhìn mới đối với hướng nghiệp. Đó là sự phối hợp giữa nhiều giai đoạn khác nhau trong cuộc đời của từng cá nhân (như làm con, HS, làm vợ, làm người mẹ, v.) đối với quá trình lựa chọn nghề nghiệp của họ. Một ví dụ điển hình của nhóm nghiên cứu này là Sự tăng trưởng công việc theo từng giai đoạn cuộc sống của TS.
Một trong các đóng góp quan trọng nhất của TS. Donald Super trong hoạt động này là những phân tích trên một số bài báo chứng minh tầm ảnh hưởng của khả năng hiểu được bản chất cá nhân (Mình là ai? ) đối với định hướng sự nghiệp của từng người. Ông nhấn mạnh rằng, khái niệm bản thân biến 8 đổi theo năm tháng và đi kèm với những kinh nghiệm của từng cá nhân trong cuộc đời. Vì vậy, hướng nghiệp là một cuộc hành trình không bao giờ kết thúc mà xuyên suốt cuộc đời của con người.
Nghiên cứu về thực trạng tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông Đầu những năm thế kỷ XX, các mô hình giáo dục hướng nghiệp nói chung và tư vấn nghề nói riêng lần đầu tiên xuất hiện ở những nước công nghiệp phát triển bởi xu thế cá biệt hóa công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông; nhằm hoàn thiện hệ thống đào tạo học sinh và chuẩn bị cho học sinh đi vào hoạt động nghề nghiệp sau phổ thông. Cụ thể hơn, giáo dục nghề nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cho tư vấn hướng nghiệp. Trong đó, tư vấn hướng nghiệp ngày càng có sự can thiệp xu thế đổi mới như tiếp cận các mô hình giảng dạy hiện đại đan xen với hệ cơ cấu nghề nghiệp quốc gia. Các lý thuyết đồng thời nhấn mạnh đến tính tất yếu của việc cá nhân được định sẵn để làm việc trong các cấp độ nghề nghiệp khác nhau.
Chính vì vậy, để chương trình giảng dạy của trường trung học đạt hiệu quả cao cần có sự phân biệt bằng cách mở thêm chương trình học mới có tên gọi là giáo dục nghề nghiệp. Đồng thời, phong trào dạy nghề bắt đầu với vai trò của một nhà giáo dục/ tư vấn mới sẽ giúp người học diễn giải dữ liệu kiểm tra hay bộ câu hỏi định hướng nghề để đưa ra lựa chọn nghề nghiệp. Các nhà tư vấn được yêu cầu rằng, giáo dục dục nghề nghiệp ở thời kỳ này hướng đến mục đích chính là cho những người tham gia vào tầng lớp lao động, không phải phục vụ đối tượng học đại học. Nhiều ý thức hệ giống nhau đã ảnh hưởng đến các hướng phát triển nguồn nhân lực trong kinh doanh và đặc biệt, thái độ của người quản lý về việc nên sử dụng tiền đào tạo nguồn lực lao động nơi đâu.
Với nhiều người, công việc đã chiếm vị trí trung tâm trong suốt cuộc đời của mình, do vậy, tư vấn hướng nghiệp đóng vai trò rất quan trọng và việc khai thác được thế mạnh sẽ góp phần thành công trong sự nghiệp của cá nhân đó. Quan điểm của Curry (2013) trong “Career Counseling in P-12 Schools” cho 9 rằng, công việc nên có sự pha trộn giữa niềm yêu thích thử thách và gặt hái thành tựu. Công việc đồng thời cần đáp ứng được sự chuyên nghiệp và phát triển cá nhân. Theo Brown (2012) trong “Career Development and Counseling”, một người thường xuyên làm nghề nghiệp nào đó sẽ ảnh hưởng cực nhiều lên cách suy nghĩ của họ.
Chính vì thế, công việc sẽ có tác động tinh thần cực tốt đến đời sống của các thành viên khi họ đã bỏ ra nhiều tâm huyết và sức lực vào nghề nghiệp. Bên cạnh đó, tư vấn tâm lý sẽ góp phần ngăn chặn hoặc cải thiện những rắc rối ảnh hưởng lên nghề nghiệp ở mỗi thành viên nếu họ không hài lòng với việc làm hiện nay. Như vậy, sự nghiệp và công việc luôn được coi là một phần quan trọng đối với đời sống của mỗi con người và tư vấn hướng nghiệp sẽ đem lại giá trị và có ích trực tiếp cho sự tiến bộ của bản thân và xử lý hiệu quả những tình huống phát sinh trong công việc. Năm 1848, cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” đã xuất hiện ở Pháp đề cập đến xu thế đa dạng nghề nghiệp do sự phát triển của ngành công nghiệp hóa và tầm quan trọng trong việc giúp đỡ thanh niên lựa chọn nghề nghiệp nhằm phát huy được hết khả năng của mình.
Tác giả đã thể hiện rõ sự cần thiết của trợ giúp thanh niên đạt đến đường học vấn và tận dụng tốt nguồn lực lao động tương lai. Năm 1909, Frank Parsons nhấn mạnh định hướng phát triển thanh thiếu niên cần căn cứ trên năng lực, năng khiếu, đam mê và nguyện vọng cá nhân. Stanton-Salazar và Dornbusch (1995) nhấn mạnh vai trò của nhà tư vấn trường học như là một nguồn lực xã hội hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp. Khi cha mẹ học sinh thuộc diện thu nhập thấp, bị hạn chế trong nhận thức và thông tin thì việc trợ giúp học tập và hỗ trợ tư vấn từ trường học đóng vai trò rất quan trọng.
Trong quá trình tuyển sinh đại học, các nhà hoạt động tư vấn trong nhà trường có thể cung cấp mạng lưới mạnh mẽ và vốn xã hội nhằm bù đắp cho mạng lưới gia đình khi học sinh có nguồn lực hạn chế. Hơn nữa, khi đề cập đến thông tin đại học, những nhà hoạt động tư vấn trong trường phổ 10 thông có thể được xem là người cung cấp nguồn vốn xã hội duy nhất cho sinh viên thu nhập thấp và sinh viên da màu (Cabrera & La Nasa, 2001; Harris, Duncan, & Boisjoly, 2002). Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả đã làm rõ việc sinh viên liên hệ với các nhà tư vấn trường học để được hỗ trợ thông tin trường đại học như là một nguồn vốn xã hội dựa trên trường học. Mục đích của nghiên cứu Sử dụng lý thuyết vốn xã hội làm khung, chúng tôi đã kiểm tra dữ liệu từ Nghiên cứu theo chiều dọc giáo dục năm 2002 (ELS: 2002; Ingels, Pratt, Rogers, Siegel, & Stutts, 2004) để điều tra các tác động của việc tiếp xúc với học sinh với trường học nhân viên tư vấn cho thông tin đại học.
Đặc biệt, các nhà nghiên cứu muốn biết liệu sinh viên có liên hệ với các nhà tư vấn trường học về thông tin đại học có đóng vai trò là nguồn vốn xã hội cho sinh viên trong quá trình nộp đơn đại học hay không. Những phát hiện của nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng khi có thể chứng minh, làm rõ vai trò của nhà tư vấn trung học và thêm dữ liệu thực nghiệm để làm rõ mối liên hệ với nhà tư vấn học sinh và quy trình chọn trường, nộp đơn đăng ký vào đại học. Trong nghiên cứu này, các sinh viên khác nhau sẽ liên hệ với nhà tư vấn trường học để nắm thông tin về trường đại học được gọi xen kẽ là liên hệ nhà tư vấn sinh viên để biết thông tin đại học, liên hệ với nhà tư vấn sinh viên, hoặc khi sinh viên nhìn thấy tư vấn viên về thông tin đại học.