CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG 1. Lý do chọn đề tài 2. Giới hạn của đề tài 3. Mục đích và mục tiêu của đề tài 4.
Phương pháp nghiên cứu 5. Tóm tắt nghiên cứu 6. Thời gian nghiên cứu PHẦN HAI: PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về Sinh viên, công việc, khái quát về công việc làm thêm 2.
Khái quát về tình hình làm thêm của Sinh viên Trung Quốc 3. Lịch sử, nguồn gốc việc Sinh viên Trung Quốc đi làm thêm 4. Những nhận định cũ và mới xung quanh việc Sinh viên Trung Quốc đi làm thêm CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Giới hạn nghiên cứu của đề tài 2.
Phương pháp nghiên cứu 3. Cách thức tiến hành nghiên cứu 4. Phân tích và đánh giá kết qủa nghiên cứu CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ SINH VIÊN TRUNG QUỐC VỚI CÔNG VIỆC LÀM THÊM – GIẢI PHÁP 1. Đánh giá chung về thực trạng Sinh viên Trung Quốc với công việc làm thêm 2.
Ngành học và công việc làm thêm của Sinh Viên 3. Nguyên nhân việc Sinh viên Trung Quốc đi làm thêm Vương Hoàng Anh_ CĐTT1K4 4 Trường Cao đẳng Ngoại ngữ - Công nghệ Việt Nhật Khoa: Tiếng Trung 4. Những tác động tích cực và tiêu cực của việc Sinh viên Trung Quốc đi làm thêm 5. Những ảnh hưởng của việc Sinh viên Trung Quốc đi làm thêm 6.
Ý kiến của một số Sinh viên Trung Quốc về việc đi làm thêm 8. Liên hệ với Sinh viên Việt Nam PHẦN 3: PHẦN KẾT LUẬN CHƯƠNG V: KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT 1. Kết luận chung 2. Ý nghĩa của đề tài 3.
Đề xuất – Kiến nghị Tài liệu tham khảo 6. Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ 10/02/2012 đến 31/03/2012. Vương Hoàng Anh_ CĐTT1K4 5 Trường Cao đẳng Ngoại ngữ - Công nghệ Việt Nhật Khoa: Tiếng Trung PHẦN HAI: PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giải thích các khái niệm Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp.
Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học. Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học. Nguồn gốc của từ sinh viên được hiểu theo nghĩa tiếng Pháp étudiant: người nghiên cứu.
Tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga,. cũng đồng nghĩa như vậy. Danh từ étudiant của tiếng Pháp phát sinh từ danh từ mẹ là étude (sự nghiên cứu), ngữ nguyên ở tiếng La Tinh là studium nghĩa là: sự vận dụng trí não để học hỏi hiểu biết và đào sâu một vấn đề. Việc làm: (tiếng Anh là job, career, tiếng trung là 工作 gongzuo.) hay công việc là một hoạt động được thường xuyên thực hiện để đổi lấy việc thanh toán, thường là nghề nghiệp của một người.
Một người thường bắt đầu một công việc bằng cách trở thành một nhân viên, người tình nguyện, hoặc bắt đầu việc buôn bán. Thời hạn cho một công việc có thể nằm trong khoảng từ một giờ (trong trường hợp các công việc lặt vặt) hoặc cả đời (trong trường hợp của các thẩm phán). Nếu một người được đào tạo cho một loại công việc nhất định, họ có thể có một nghề nghiệp. Tập hợp hàng loạt các công việc của một người trong cả cuộc đời là sự nghiệp của họ.
Một công việc phải có điểm đầu và điểm kết thúc, phải có mục tiêu, kết quả, có nguồn lực. Để hiểu rõ khái niệm bản chất của việc làm ta phải liên hệ đến phạm trù lao động. Vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Lao động trước hết là một hành động diễn ra giữa con người với giới tự nhiên, trong lao động con người đã vận dụng trí lực và thể lực cùng với công cụ tác động vào giới tự nhiên tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, đời sống của con người, lao động là 1 yếu tố tất yếu không thể thiếu đc Vương Hoàng Anh_ CĐTT1K4 6 Trường Cao đẳng Ngoại ngữ - Công nghệ Việt Nhật Khoa: Tiếng Trung của con người, nó là hoạt động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người.
Con người không thế sống khi không có lao động. Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động, sức lao động chính là năng lực của con người nó bao gồm cả thể lực và trí lực, nó là yếu tố tích cực đóng vai trò trung tâm trong suốt quá trình lao động, là yếu tố khởi đầu, quyết định trong quá trình sản xuất, sản phẩm hàng hóa có thể được ra đời hay không thì nó phải phụ thuộc vào quá trình sử dụng sức lao động. Bản thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định, mỗi vị trí mà người lao động chiếm dữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất đc gọi là chỗ hay việc làm. Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, nó phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất.
Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm dữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội và cho bản thân. Nhưng với khái niệm như trên thì chưa đc coi là đầy đủ vì con người chỉ có thể tồn tại trong gia đình và xã hội, do đó việc làm được hiểu theo một cách hoàn chỉnh đó là ngoài phần người lao động tạo ra cho xã hội còn phải có phần cho bản thân và gia đình nhưng điều cốt yếu là việc làm đó phải được xã hội thừa nhận (được pháp luật thừa nhận). Tùy từng cách phân loại mà ta có các hình thức việc làm: Toàn thời gian: Là một định nghĩa chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày trong tuần.
Bán thời gian: Là một định nghĩa mô tả công việc làm không đủ thời gian giờ hành chính quy định của nhà nước 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần. Thời gian làm việc có thể giao động từ 0.5 đến 5 tiếng mỗi ngày và không liên tục. Vương Hoàng Anh_ CĐTT1K4 7 Trường Cao đẳng Ngoại ngữ - Công nghệ Việt Nhật Khoa: Tiếng Trung Công việc làm thêm: Là một định nghĩa mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định. Khái quát tình hình làm thêm của Sinh viên Trung Quốc Hiện nay việc Sinh viên Trung Quốc đi làm thêm không là điều mới mẻ.
Làm thêm gần như đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống Sinh viên. Những năm gần đây, cụm từ Partime (làm bán thời gian) đã trở thành một xu hướng dành cho những Sinh viên năng động và ham học hỏi. Có rất nhiều công việc phù hợp với Sinh viên như: tiếp thị, bán hàng, gia sư,.Bình thường không phải tự nhiên Sinh viên muốn đi làm thêm, lý do họ đi làm thêm là vô kể nhưng hầu hết lý do chính là để cải thiện tình hình tài chính, đỡ đần một phần nào cho gia đình. Ngoài ra không phải chỉ để kiếm tiền ăn học mà làm thêm còn là cơ hội rèn luyện mình giữa thực tế.
Từ chỗ được bao cấp toàn bộ,Sinh viên thời nay buộc phải chạy đua để tự nuôi sống mình nếu không muốn làm kẻ tụt hậu. Khoản tiền thu nhập trong một tháng đi làm thêm của Sinh viên Trung Quốc là 500NDT tương đương với 1 triệu 500 nghìn tiền Việt Nam, khoảng thời gian mà các bạn đi làm thêm nhiều nhất từ 1 tiếng đến 3 tiếng. Sau thu nhập chính là việc lựa chọn thời gian phù hợp với lịch học ở trường. Lịch sử vấn đề sinh viên Trung Quốc với công việc làm thêm Việc làm thêm của Sinh viên bắt đầu từ khi nào? Không ai biết rõ.
Nhưng chắc chắn một điều rằng họ đi làm thêm ban đầu là vì cơm, áo, gạo, tiền. Họ muốn giúp đỡ bố mẹ một năng hai sương ở nhà. Đối với Sinh viên mà nói, thì nhiệm vụ học tập được đặt lên hàng đầu, nhưng ngoài thời gian trên giảng đường, để đảm bảo thêm phần nào những nhu cầu của cuộc sống, hoặc cũng có thể là để có thêm cơ hội tiếp xúc, học hỏi nhằm trang bị thêm những kinh nghiệm xã hội cho mình, có rất nhiều Sinh viên đã tìm cho mình những công việc làm thêm. Trong cơn cuồng say của giá cả, từ sự tăng nhanh một cách chóng mặt của các mặt hàng thực phẩm, rau , củ, quả cho đến giá tiền điện, tiền phòng Vương Hoàng Anh_ CĐTT1K4 8 Trường Cao đẳng Ngoại ngữ - Công nghệ Việt Nhật Khoa: Tiếng Trung trọ…Khiến cho cuộc sống của Sinh viên bị chao đảo theo đồng tiền.
Đề nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình họ chỉ còn cách là kiếm thêm việc để làm ở các quán hàng, làm gia sư, hoặc bất cứ một công việc gì tạo ra thu nhập. Không phải ai đi tìm việc và cũng có việc làm tốt, tuy nhiên có nhiều bạn thật may vì đã tìm “trúng tủ” được những công việc hợp với thời gian và có thu nhập ổn định. Trong những trường hợp ấy phải kể đến bạn 阮 氏 平 (Ruan shi ping) Sinh viên năm 3 Trường Đại học Sư Phạm Quảng Tây tâm sự: “Tôi thật may vì đã kiếm được một công việc hợp lý, đi làm gia sư từ 19h đến 21h, Thu nhập được hơn 900NDT/ tháng”. Làm việc với thời gian ngoài giờ học luôn là điều mà các bạn Sinh viên Trung Quốc muốn.
Với bạn 阮 氏 平 (Ruan Shi Ping), đó là khoảng thời gian hợp lí cho mỗi bạn Sinh viên. Bạn còn nói: “ mình thấy đó là khoảng thời gian hợp lý, vừa dạy học mình vừa được ôn lại kiến thức, vừa luyện được kĩ năng sư phạm của mình”. Mỗi trường, mỗi ngành học đều có những đặc trưng riêng, nhưng khi một Sinh viên đã quyết định đi làm thêm thì họ sẵn sàng làm bất cứ công việc gì. Vì thì trường lao động tuy rộng, nhưng kiếm được một công việc bán thời gian phù hợp với lịch học ở trường thì không phải việc dễ dàng gì.