Chương 1 trình bày về tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các phương pháp được sử dụng để thực hiện đề tài nghiên cứu và những đóng góp của kết quả nghiên cứu đối trên phương diện học thuật và thực tiễn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về người học Theo Điều 80 Luật Giáo dục 2009, “người học” là người đang học tập tại cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm 6 nhóm đối tượng. Trong đó có: + Sinh viên của trường cao đẳng, trường đại học; + Học viên của cơ sở đào tạo thạc sĩ.
Khái niệm về khởi sự kinh doanh Khởi sự theo Từ điển tiếng Việt là bắt đầu một cái gì mới. Khởi sự kinh doanh theo nghĩa tiếng Việt là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới. Trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật đó là một khái niệm đa chiều. Khởi sự kinh doanh là việc mở một doanh nghiệp mới (Krueger và Brazeal, 1994); hay là tự làm chủ, tự kinh doanh (Kolvereid, 1996).
Trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, thì khởi sự kinh doanh được gắn với các thuật ngữ và lĩnh vực nghiên cứu rất khác nhau. khởi sự kinh doanh được gắn chủ yếu với 2 nghĩa và 2 hướng nghiên cứu chính sau: - Các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động thì cho rằng khởi sự kinh doanh là một sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân giữa việc đi làm thuê hoặc tự tạo việc làm cho mình nên gắn khởi sự kinh doanh với thuật ngữ “tự tạo việc làm” (Kolvereid, 1996) và các nghiên cứu về lựa chọn nghề nghiệp. Theo hướng nghiên cứu này khởi sự kinh doanh là lựa chọn nghề nhiệp của những người không sợ rủi ro tự làm chủ công việc kinh doanh của chính mình và thuê người khác làm công cho họ (Linan và Chen, 2006). Làm thuê được hiểu là cá nhân sẽ làm việc cho một doanh nghiệp hoặc tổ chức do người khác làm chủ.
Như vậy, khởi sự kinh doanh được hiểu là tự tạo việc làm theo nghĩa trái với đi làm thuê, là tự làm chủ- tự mở doanh nghiệp và thuê người khác làm việc cho mình. - Trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh, khởi sự kinh doanh gắn với thuật ngữ “tinh thần doanh nhân” và các nghiên cứu trong lĩnh vực này (Greve và 9 Salaff, 2003). “Tinh thần doanh nhân” cũng được hiểu và định nghĩa khác nhau. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp “tinh thần doanh nhân” là việc một cá nhân bắt đầu khởi sự công việc kinh doanh của riêng mình (Begley, 2001), hay là việc một cá nhân chấp nhận rủi ro để tạo lập một doanh nghiệp mới và tự làm chủ nhằm mục đích làm giàu, hoặc là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới bằng đầu tư vốn kinh doanh, hay mở cửa hàng kinh doanh.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì tinh thần doanh nhân lại là một thái độ làm việc đề cao tính tự chủ, sáng tạo, đổi mới và chấp nhận rủi ro tạo ra các giá trị mới trong các doanh nghiệp hiện tại; là sự đổi mới; là một phong cách nhận thức và suy nghĩ; là dự định phát triển nhanh (MacMillan, 1993). Hiện nay các nhà nghiên cứu lý thuyết lẫn thực tiễn rất đa dạng trong khái niệm và khuôn khổ nghiên cứu về tinh thần doanh nhân.Tinh thần doanh nhân với nghĩa rộng hơn thường được các học giả nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị kinh doanh và quản trị chiến lược. Khởi sự kinh doanh trong nghiên cứu này sẽ được hiểu theo nghĩa hẹp của từ tinh thần doanh nhân. Theo đó, khởi sự kinh doanhlà việc một cá nhân (một mình hoặc cùng người khác) tận dụng cơ hội thị trường tạo dựng một công việc kinh doanh mới.
Theo Szydło và cộng sự (2022), tiến hành hoạt động kinh doanh gắn liền với sự cần thiết phải sở hữu một doanh nghiệp một số tài sản nhất định được phản ánh trong các nguồn tài chính. Khái niệm người khởi sự kinh doanh Theo Bird (1988) định nghĩa người khởi sự kinh doanh là người bắt đầu (hoặc tạo dựng) một công việc kinh doanh mới. MacMillan và Katz (1992) cho rằng người khởi sự kinh doanh là người kiếm tiền bằng cách bắt đầu hoặc quản trị công việc kinh doanh có tính rủi ro. Người khởi sự kinh doanh là người tạo dựng doanh nghiệp mới và phát triển kinh doanh, họ năng động trong các hoạt động kinh tế, quản trị các thay đổi về kỹ thuật và tổ chức trong doanh nghiệp, tạo dựng văn hóa đổi mới và học tập trong doanh nghiệp.
Như vậy trong nghiên cứu này, người khởi sự kinh doanh là cá nhân tạo dựng công việc kinh doanh mới. Tiềm năng khởi sự kinh doanh Sự kiện khởi nghiệp đòi hỏi sự chuẩn bị từ trước để chấp nhận cơ hội đó (tức là "tiềm năng"), sau đó là điều gì đó dẫn đến quyết định (Shapero, 1982). Các doanh nhân tiềm năng không cần phải có bất kỳ ý định nổi bật nào về việc bắt đầu kinh doanh; Tiềm năng của chúng là tiềm ẩn và có trước về mặt nhân quả và thời gian. Theo Shapero và Sokol (1982) những người có tiềm năng khởi sự kinh doanh là những cá nhân sẵn sàng tiên phong trong việc nắm bắt các cơ hội kinh doanh hấp dẫn mà họ nhận biết được.
Quan điểm này được Krueger và Brazeal (1994) ủng hộ, hai nhà nghiên cứu cho rằng các doanh nhân tiềm năng là những người sẽ chấp nhận rủi ro và tiến hành các hành động cần thiết khi họ nhận thấy tín hiệu của một cơ hội kinh doanh. Các mô hình nghiên cứu về khởi sự kinh doanh Nghiên cứu này sẽ khám phá hai mô hình có tính ứng dụng cao và các cấu trúc chính của chúng. Kế tiếp, tác giả dựa trên những mô hình đó để phát triển một mô hình tiềm năng kinh doanh và ý nghĩa của nó. Các mô hình chính thức, dựa trên lý thuyết về ý định đã được chứng minh là có giá trị tiên đoán rất mạnh mẽ.
Mô hình sự kiện kinh doanh của Shapero và Sokol (1982) phần lớn bắt nguồn từ công trình của ông về vai trò của tinh thần kinh doanh trong phát triển kinh tế. Cách tiếp cận dựa trên ý định dường như có thể áp dụng như nhau đối với nghiên cứu về các dự án kinh doanh của công ty cũng như về phát triển kinh tế. Tinh thần kinh doanh thể hiện rõ ràng hành vi có chủ ý, có kế hoạch (Ajzen, 1991) và do đó dường như có thể nghiên cứu bằng cách sử dụng các mô hình ý định chính thức. Các tài liệu về ý định đề xuất mạnh mẽ hai khái niệm quan trọng.
Đầu tiên, ý định phục vụ để tập trung sự chú ý của những người ra quyết định vào một hành vi mục tiêu và thường xuyên chứng tỏ là yếu tố dự báo đơn lẻ tốt nhất cho hành vi đó. Cuối cùng, một số thái độ hoặc niềm tin quan trọng dự đoán mạnh mẽ ý định. Nghĩa là, các lực lượng tác động lên một hành vi tiềm ẩn làm như vậy một cách gián tiếp bằng cách ảnh hưởng đến ý định thông qua những thái độ chính 11 đó. Thứ hai, những thái độ và ý định chính này dựa trên nhận thức.
Vì vậy, chúng có thể học được và nhất thiết phải khác nhau giữa các cá nhân và tình huống. Tác giả tổng quan ngắn gọn về mô hình chủ đạo của ý định hành vi, lý thuyết về hành vi có kế hoạch của Ajzen và lý thuyết sự kiện khởi nghiệp của Shapero. Từ đó, tác giả đề xuất một mô hình tiềm năng kinh doanh dựa trên các mô hình chồng chéo này. Lý thuyết về hành vi có kế hoạch của Ajzen (TPB) Hình 2.
Lý thuyết về hành vi có kế hoạch TPB (Nguồn: Ajzen, 1991) Trong lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen, có ba thái độ chính để dự đoán ý định: (a) "thái độ đối với hành động", bao gồm nhận thức về các kết quả cá nhân bên trong và bên ngoài; (b) "chuẩn mực xã hội", bao gồm những ảnh hưởng ngoại lai được nhận thức đối với người ra quyết định; (c) "nhận thức kiểm soát hành vi", bao gồm nhận thức cá nhân về tính khả thi của hành vi. Cấu trúc thứ hai phần lớn trùng lặp với cấu trúc của Bandura về nhận thức về năng lực bản thân, nhận thức rằng một người có thể thực hiện hành vi mục tiêu. Hầu hết các nghiên cứu về ý định tập trung vào các hành vi gần, không phải mục tiêu dài hạn, nhưng TPB dường như có thể áp dụng cho tinh thần kinh doanh (Krueger & Carsrud, 2000). Tuy nhiên, chúng ta đã có một mô hình giải quyết trực tiếp chính vấn đề này: mô hình "sự kiện kinh doanh" của Shapero (1982).
12 Lý thuyết sự kiện kinh doanh của Shapero (SEE) Mô hình của Shapero giả định rằng quán tính hướng dẫn hành vi của con người cho đến khi có thứ gì đó phá vỡ hoặc thay thế quán tính đó. Sự dịch chuyển thường mang tính tiêu cực (ví dụ: mất việc làm), nhưng cũng có thể dễ dàng mang tính tích cực (ví dụ: thừa kế). Sự dịch chuyển dẫn đến một sự thay đổi trong hành vi và người ra quyết định tìm kiếm cơ hội tốt nhất có sẵn từ bộ thay thế đã ban hành (Katz, 1992). Lý thuyết sự kiện kinh doanh SEE (Nguồn: Shapero và Sokol, 1982) Việc lựa chọn hành vi kết quả phụ thuộc vào "độ tin cậy" tương đối của các hành vi bản địa thay đổi (trong tình huống này đối với người ra quyết định này) cộng với một số "xu hướng hành động" (không có nghĩa là người ra quyết định có thể không thực hiện bất kỳ hành động quan trọng nào).
"Độ tin cậy" đòi hỏi hành vi đó phải được coi là mong muốn và khả thi. Do đó, sự kiện kinh doanh đòi hỏi 13 tiềm năng kinh doanh (uy tín và xu hướng hành động) tồn tại trước khi di dời (cùng với khuynh hướng hành động sau khi bị di dời). Shapero cung cấp thêm bằng chứng cho thấy nhận thức là rất quan trọng. Ông đưa ra những ví dụ về những sự kiện quan trọng trong cuộc sống (mất việc làm, di cư, v.) dẫn đến sự gia tăng đáng kể trong hoạt động kinh doanh.
Các cá nhân không thay đổi, chỉ có nhận thức của họ về hoàn cảnh mới là có. Tiềm năng trở thành doanh nhân rõ ràng là có, nhưng nó đòi hỏi một số loại dịch chuyển để tiềm năng đó xuất hiện. Tổng quan các công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự kinh doanh 2.