Chương 1: Cơ sở lý luận về nhu cầu tƣ vấn hƣớng nghiệp của học sinh trung học phổ thông Chương 2: Phƣơng pháp và tổ chức nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng nhu cầu tƣ vấn hƣớng nghiệp của học sinh trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU TƢ VẤN HƢỚNG NGHIỆP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài về tư vấn hướng nghiệp Hƣớng nghiệp xuất hiện đầu tiên ở Mỹ, bắt đầu từ năm 1850 đến 1940, gắn liền với những cá nhân nhƣ Francis Galton, Wilheim Wundt, James Cattell, Alfred Binet, Frank Parsons, Robert Yerkers, và E. Cuối những năm 1800, một hệ thống công nghiệp với quy mô lớn ra đời đã làm thay đổi mạnh mẽ môi trƣờng làm việc và điều kiện sống.
Khu vực đô thị phát triển, cùng với tốc độ phát triển và tập trung hoá công nghiệp đã thu hút rất nhiều ngƣời dân lao động từ các khu vực nông thôn. Để đáp ứng đƣợc yêu cầu của các nhà máy công nghiệp và điều kiện sống khắc nghiệt, chật chội trong những khu nhà ổ chuột, một nhu cầu đổi mới đã xuất hiện, một vài nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến hành vi con ngƣời, quan tâm đến các điều kiện sống và làm việc trong xã hội bị thay đổi bởi cuộc cách mạng công nghiệp. Những điều kiện khách quan trên để làm nền móng cho ra đời một ngành khoa học, ngành tham vấn nghề [18]. Năm 1907, Jesse Davis (1917-1955) đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công tác hƣớng dẫn nghề tại Michigan.
Tuy nhiên, ngƣời có ảnh hƣởng lớn nhất đến công tác hƣớng nghiệp ở Mỹ là Frank Parsons (1954-1908). Ông đã xuất bản cuốn sách “Cẩm nang hƣớng nghiệp” nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề nghiệp, F. Parsons hi vọng công tác hƣớng nghiệp đƣợc đƣa vào trƣờng học – một hi vọng đƣợc trở thành hiện thực năm 1908, sau khi ông mất. Năm 1909 cuốn sách “Chọn nghề” đƣợc coi là sự cống hiến to lớn mà ông đã để lại cho công tác hƣớng nghiệp.
Phòng tƣ vấn đầu tiên trên thế giới đã đƣợc F. Parsons thành lập ở Boston (Mỹ) vào năm 1908. Parsons cho rằng công tác hƣớng nghiệp phải đƣợc thể hiện trong quá trình sau: - Sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng, sở thích hoài bão, nguồn lực cũng nhƣ những hạn chế của cá nhân đối với nghề; động lực thúc đẩy cá nhân chọn nghề. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Sự hiểu biết về những yêu cầu của nghề nghiệp, điều kiện thành công, những thuận lợi và khó khăn, những cơ hội và những triển vọng phát triển trong các giới hạn khác nhau của công việc [14].
Hiện nay, ở Mỹ đã kết hợp chặt chẽ việc tƣ vấn nghề với chƣơng trình công nghệ và dạy nghề, họ cũng đã đƣa môn “Hƣớng dẫn chọn nghề” (Career Guidance) vào giảng dạy trong trƣờng phổ thông. Từ bậc trung học đến đại học đều có các cố vấn tâm lý làm việc trong trƣờng. Công việc của họ xuất phát từ nhu cầu lựa chọn một nghề phù hợp trong tƣơng lai của học sinh, họ đƣa ra lời khuyên cho học sinh nên nộp đơn xin vào học trƣờng đại học nào phù hợp với trình độ và năng khiếu học sinh. Chƣơng trình giáo dục THPT đƣợc cấu tạo mềm, gồm chƣơng trình A và B.
Từ khi vào học lớp 9, ngƣời cố vấn đã chỉ cho học sinh nên học theo chƣơng trình nào tuỳ theo nhu cầu, nguyện vọng của em đó sau này muốn học lên đại học ngành gì hay sau khi học xong phổ thông sẽ đi làm [dẫn theo 39]. Ở các nƣớc trong khu vực Châu Á cũng có sự quan tâm đến vấn đề này. Tại trƣờng THPT, dù là trƣờng công lập hay tƣ thục thì ở các em bắt đầu xuất hiện nhu cầu tìm hiểu và lựa chọn nghề nghiệp tƣơng lai. Và việc định hƣớng tƣơng lai cho học sinh đều bắt đầu từ năm lớp 10 thông qua giờ hoạt động câu lạc bộ hoặc hƣớng dẫn riêng cho từng em của giáo viên chủ nhiệm.
Lớp 11 nhà trƣờng mời các giảng viên ở bên ngoài nhƣ những sinh viên đã ra trƣờng hay những lãnh đạo các doanh nghiệp đến nói chuyện về kinh nghiệm bản thân hay hoạt động ở doanh nghiệp của họ. Lớp 12 nhà trƣờng tổ chức cho học sinh đi tham quan để định hƣớng cho tƣơng lai [dẫn theo 27]. Nhƣ vậy, việc điểm qua tình hình của một số nƣớc trên thế giới cho ta thấy việc TVHN cho học sinh phổ thông là một xu thế tất yếu của thời đại. Vì vậy, hƣớng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tƣơng lai.
Nhà trƣờng cần phải có những nhà TVHN chuyên môn để giúp học sinh lựa chọn khoá học thích hợp với nhu cầu, hứng thú, năng lực của học sinh (có tính đến nhu cầu của thị trƣờng lao động), dự báo những khó khăn trong học tập và giúp học sinh giải quyết những khó khăn đó. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nghiên cứu ở trong nước về tư vấn hướng nghiệp Ở Việt Nam, cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề hƣớng nghiệp của học sinh THPT, trong đó có nhu cầu TVHN. Thực trạng công tác TVHN đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu nhƣ Nguyễn Viết Sự, Hà Thị Đức, Lƣu Xuân Mới.
Các tác giả này đề cập đến vấn đề nội dung TVHN và những ngƣời làm công tác TVHN, tuy nhận thức đƣợc rất rõ tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác này đối với học sinh nhƣng họ lại thiếu thông tin và điều kiện cần thiết để làm tốt. Bên cạnh đó các tác giả cũng nói đến các nhân tố có ảnh hƣởng đến sự lựa chọn nghề của học sinh và họ cho rằng việc lựa chọn nghề nghiệp phần lớn là do cá nhân học sinh quyết định (chiếm 46%), ít chịu sự tác động từ gia đình và các giáo viên [23]. Trong nghiên cứu của tác giả Lê Khắc Thìn về vấn đề “Tìm hiểu thực trạng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 và công tác hƣớng nghiệp ở trƣờng THPT” cũng đã nhấn mạnh đến nguyện vọng chọn nghề của học sinh. Do nƣớc ta mở cửa phát triển kinh tế nhiều thành phần, hợp tác kinh tế với nhiều nƣớc trên thế giới, vì vậy các em có xu thế hƣớng vào các trƣờng thuộc lĩnh vực kinh tế, công nghệ tiên tiến.
Nhƣ vậy, sự định hƣớng của học sinh vào các trƣờng cũng phát triển theo xu thế phát triển của xã hội. Tuy nhiên, có nhiều em chọn nghề theo rung cảm từ nhỏ, từ mẫu ngƣời lý tƣởng, có em chọn nghề theo sự vui thích của cá nhân, theo yêu cầu của cha mẹ. Do đó có thể có sự không phù hợp giữa sở thích và nguyện vọng. Hầu hết các em đều cho rằng nghề các em thích là phù hợp sở thích và khả năng của bản thân, hoặc yêu thích nghề vì phù hợp với nguyện vọng, đƣợc xã hội coi trọng.
Có 7,38% học sinh cho biết là chƣa hiểu rõ về nghề nên không biết thích cái gì. Bên cạnh đó, sự hiểu biết của học sinh về nghề định chọn là rất ít, chƣa sâu sắc, không rõ ràng, cụ thể. Những nguồn thông tin quan trọng nhất (cha mẹ, thầy cô, các phƣơng tiện thông tin đại chúng) để giúp cho các em có nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp thì chƣa phát huy hết tác dụng. Vì vậy, biểu tƣợng về nghề nghiệp mà học sinh định chọn không rõ ràng, phiến diện cũng là điều dễ hiểu [42].
Tác giả Nguyễn Ngọc Minh trong công trình nghiên cứu “Nhận thức của giáo viên về tƣ vấn hƣớng nghiệp trong nhà trƣờng THPT” đã nêu lên đƣợc thực trạng TVHN hiện nay trong nhà trƣờng THPT là hầu hết các trƣờng THPT đều đặc 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách các giáo viên kiêm nhiệm thêm công tác này, cho nên quá trình chuẩn bị thông tin, kiến thức cho công tác TVHN trong nhà trƣờng của các giáo viên còn mang tính tự phát, chƣa có hệ thống. Tác giả cũng nêu lên đƣợc thái độ của giáo viên đối với vai trò của TVHN trong nhà trƣờng: đa số các giáo viên đều nhận biết và thông hiểu một cách thấu đáo và sâu sắc tầm quan trọng của công tác này, nhận biết đƣợc sự mong mỏi của học sinh về một ban chuyên trách TVHN trong nhà trƣờng để giúp các em lựa chọn nghề nghiệp, trƣờng thi khi các em ở những năm cuối cấp. Gần nhƣ 100% học sinh đều chọn ý kiến mong muốn trong nhà trƣờng có ban chuyên trách về TVHN để giúp các em trong việc chọn nghề [29]. Khi nghiên cứu hoạt động TVHN ở học sinh THPT, nhà tƣ vấn tâm lý Dƣơng Diệu Hoa nhận thấy, nếu cho rằng công tác hƣớng nghiệp là chủ yếu hƣớng tới việc định hƣớng chọn nghề trong tƣơng lai của thanh niên, thì chƣa đúng với chức năng của hƣớng nghiệp.
Trong thực tế, “Hướng nghiệp là làm cho cá nhân nhận ra chân giá trị của nghề và tìm thấy hạnh phúc khi tận tâm cống hiến tinh thần và sức lực cho nghề đó”. Hƣớng nghiệp là làm cho cá nhân lấy việc hành nghề làm lẽ sống chứ không phải là phƣơng tiện kiếm sống [19]. Khi cá nhân hiểu đƣợc giá trị nghề để cống hiến thì những động cơ khác nhƣ chọn nghề vì dễ xin việc làm, thu nhập cao, nghề danh giá… sẽ không phải là cơ bản. Do vậy, TVHN không chỉ mang lại giá trị kinh tế, mà sâu xa hơn, đó là những giá trị nhân văn vì sự phát triển bền vững của xã hội.
Trong một dự thảo về khung giáo dục hướng nghiệp đƣợc đăng tải trên mạng Internet [38], do Ths. Nguyễn Ngọc Tài (Viện Nghiên cứu giáo dục làm chủ nhiệm) cũng đồng quan điểm khi nhận định rằng: Ngƣời đƣợc hƣớng nghiệp cũng phải biết đến giá trị nghề, “Giá trị nghề sẽ có nguy cơ bị bôi bẩn hoặc có triển vọng được thăng hoa khi bản thân người hành nghề đã lấy nghề đó làm phương tiện để thực hiện mục đích gì, với động cơ gì”. Mỗi ngƣời trƣớc khi chọn nghề nào đó, ngoài việc xác định nó phù hợp với ta không, để xét xem tƣơng lai ta có triển vọng trong nghề đó không, còn phải tính đến việc ta đóng góp gì cho nghề đó và sự đóng góp của ta có vì xã hội không? Nghiên cứu xu hƣớng nghề nghiệp của học sinh theo các chỉ số, tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: Mức độ nhận thức nghề nghiệp, thái độ đối với nghề 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.