CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NHU CAU THAM VAN HỌC DUONG CUA HỌC SINH TRUNG HỌC PHO THONG 1. Lịch sử nghiên cứu van đề 1. Một số nghiên cứu vấn đề trên thế giới TVHD xuất hiện vào khoảng đầu thế ki XX tai Hoa Kì. Một trong những nội dung TVHD đầu tiên vào giai đoạn này chính là tư vấn nghề và công tác hướng nghiệp.
Được xem là một trong những người tiên phong trong lĩnh vực này, Jesse B. Davis đã giới thiệu chương trình “Những hướng dẫn về nghé nghiệp và đạo đức” (Vocational and Moral Guidance) dành cho các em HS trường công lập. Năm 1909 Frank Parson đã viết cuốn sách “Chon lựa một nghề” (Choosing a Vocation) trình bày phương pháp kết nối những đặc điểm tính cách của một cá nhân với một nghề nghiệp. Từ năm 1920 đến năm 1930 hoạt động tham vấn nghề được mở rộng và đặc biệt nhân mạnh vào sự phát triển cá nhân, xã hội và đạo đức.
Năm 1964, Hiệp hội các chuyên viên tham vin tâm lý học đường Hoa Kì đã phát triển các vai trò và chức năng dành cho các chuyên viên TVHD. Từ năm 1960, TVHD được chính thức công nhận với nhiệm vụ là tham vấn cho HS đẻ giúp họ vượt qua khủng hoảng của lứa tuổi; xây dựng các chương trình Tâm lý — Giáo dục nhằm giúp HS phát triển những kỹ năng xã hội cũng như ngăn chặn hiện tượng tiêu cực trong học đường; cố vấn cho giáo viên, nha quản lý và cha mẹ HS về các van đề của HS; làm cầu nói giữa nhà trường và cộng đồng [7]. Năm 1997, tiêu chuẩn quốc gia đành cho các chương trình TVHĐ ra đời và ké từ đó, ngành TVHĐ được xem như đã hoàn thiện. Từ đó cho đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện liên quan đến thực trạng nhu cầu TVHĐ của HS, SV ở các bậc học, sự phát triển thang đo nhu câu tham van và nghiên cứu xây dựng các mô hình tham van, thay đổi nội dung, chương trình hoạt động TVHD [1].
Trong nội dung nghiên cứu đánh giá thực trạng nhu cầu tham vấn của HS, SV ở các bậc học thường tập trung làm rõ nhu cầu nhận hỗ trợ từ các trung tâm tham van, các van đề cần tham van, tin suất đến phòng TVHĐ, nguyên nhân cản trở đến các dịch vụ tham van, mỗi quan hệ giữa stress và nhu cầu tham van. Các nghiên cứu theo khuynh hướng này cho thấy những van đề mà HS, SV can tham van thường là các mỗi quan hệ xã hội, sự phát triển nghề nghiệp. giá trị sống, kĩ năng học tập, việc rèn luyện và phát triển ban thân (37]. Đếi với các nước Âu Mỹ, hiện nay việc nghiên cửu thực trạng nhu cầu tham van hầu như chỉ hướng đến các đối tượng đặc biệt như trẻ khuyết tật, HS, SV có năng khiếu đặc biệt [39], những HS nổi bật nhưng lại bị khuyết tật học tập (academically talented students with learning disability) [38].
Trong quá trình nghiên cứu phát triển thang đo nhu cầu tham van, theo Nyutu (2001), ban đầu, những nghiên cứu về nhu cầu tham van theo xu hướng điều tra (survey research) được thực hiện dựa trên một số công cụ và phương pháp đơn giản như phỏng van theo nhóm, phỏng van trọng tâm (focus group) và bảng hỏi hoặc chỉ sử dụng các công cụ đánh giá về nhu cầu (Students Needs Assessment Survey) ở HS, SV. Vé sau, nhằm đánh giá chính xác, khách quan và khoa học vẻ thực trạng nhu cầu tham van ở HS, SV nói trên, việc xây dựng và phát triển các thang đo về nhu cầu tham van đã có đầy đủ tính hiệu lực và độ tin cậy được chú trong [37]. Ở Châu Phi, thang đo “The Students Counseling Needs Scale” (Thang đo nhu cầu tham vấn cho HS) của Nyutu (2007) được sử dụng khá phổ biến. Thang đo này cũng được chính Nyutu & Gysbers (2010) sử dụng trong một nghiên cứu gần đây “Nhu cẩu tham vấn của HS THPT Kenya" [37], điều này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng công cụ đánh giá để xác định nhu cầu tham vấn tại Kenya thay cho các công cụ đánh giá nhu cầu chungở HS, SV.
Cuỗi cùng là những nghiên cứu xây dựng mô hình tham van, thay đổi nội dung, chương trình hoạt động TVHĐ, như ở Hoa Kỷ có mô hình tham van HS dựa trên kinh nghiệm; mỏ hình tham van của Trường Illinois (2007), mô hình tham van của Trường ĐH tổng hợp Winsconsin (2008) va đặc biệt là mô hình tham vin chuyển đổi của các tác giả Eschenauer va Chen-Hayes (2005) đành cho các trường học ở đô thị. Bên cạnh đó, 9 con có các mô hình tâm lý học đường như mô hình phân phói dịch vụ tâm lý học trường học 3 tầng (năm 2008), mô hình dịch vụ TVHĐ tích hợp vả toàn diện (năm 2010). Ở Pháp đã hình thành một mạng lưới hỗ trợ đặc biệt (RASED), đây là mô hình trợ giúp đặc biệt bao gồm những hoạt động cùng nhau phòng ngừa và khắc phục khi GV không có biện pháp thay thế nao. Ở Singapore có mô hình dich vụ chăm sóc HS (Student Care Service - SCS).
Ở Trung Quốc có mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần tại các nhà trường cho HS các cấp [25]. Từ những tài liệu trên, có thể thấy công tác TVHD trên thế giới đã đạt được những thành tựu nhất định. Đó là xây dựng được các mô hình tham van va nội dung tham van phù hợp với từng đối tượng HS, SV và từng quốc gia khác nhau. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cửu đã tìm hiểu được các vin dé cần tham van và những nguyên nhãn cản trở dịch vụ tham van.
Quan trọng hơn là đã phát triển được thang đo nhu cầu tham van có độ tin cậy cao. Từ đây, các chuyên viên TVHD có thêm nhiều cơ sở dé đề xuất va thử nghiệm các biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu TVHD cho HS, SV. Điều nay góp phan day mạnh công tác TVHĐ ngày càng phát triển và mang lại hiệu quả thiết thực. Một số nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam Ở Việt Nam, trước năm 1975 tại miền nam TVHĐ được triển khai dưới hình thức là những phòng khải đạo học đường với nội dung chủ yếu là hướng nghiệp cho HS {7}.
Đến năm 1981, chính phủ chính thức ra quyết định số 126/CP về “Công tác hướng nghiệp và sử dụng hợp lý HS ra trường” để chỉ đạo công tác tư vin hướng nghiệp ở các trường phổ thông. Bên cạnh đó, các hình thức trợ giúp khác cũng bắt đầu xuất hiện như: công tác xã hội, công tác từ thiện, tuyên truyền về chính sách dân số, phương pháp phòng chống dịch bệnh, tư vấn tâm lý. Năm 1991, Ủy ban bảo vệ chăm sóc trẻ em Việt Nam đã xây dựng nhiều mô hình chăm sóc tỉnh thần cho trẻ em, trong đó có mô hình văn phòng tư vẫn, nhằm bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như trẻ em lang thang cơ nhờ, trẻ trộm cắp, nghiện hút, trẻ bị bóc lột lao động va tinh mé côi không nơi nươn trẻc, dụ g tựa [34]. Trong nhiều năm trở lại đây, vin đề nhu cầu tham van cũng như các van đẻ liên quan đến TVHĐ đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước.
10 Trong các đề tài đã được thực hiện, kết quả nhận được góp phần rất lớn vào việc làm sáng tỏ cũng như chứng minh sự đa dang của nhu cầu tham van trong xã hội hiện nay, trong đó có môi trường học đường. Theo tác giả Trương Bích Nguyệt (2003), Vo Thị Tích (2004) nhu cầu tư van học đường ở một số trường THCS, THPT tại TPHCM khá cao (85%). Nội dung chủ yếu mà các em muốn tham van là các vấn đề học tập, hướng nghiệp và các mối quan hệ với cha me, thay cô, bạn bè. Tác giả Võ Thị Tích còn khảo sát thấy có đến 81.5% HS mong muốn có chuyên viên tham vấn ngay tại trường mình, ngoài ra còn yêu cầu người làm công tác tham van phải được đào tạo chuyên môn vẻ tâm lý giáo đục và có day đủ năng lực, phẩm chất của một chuyên viên tham van [24], [20].
Đề tài “Nhu cầu tham vấn tâm lý - giới tính của HS một số trường THPT tại TPHCM" do tác giả Ngô Dinh Qua, Nguyễn Thượng Chí (2006) tiến hành khảo sát trên HS lớp 8, lớp 9 trường THCS Nguyễn Gia Thiéu và HS THPT Nguyễn Thượng Hiền — cho thấy nhu cầu tham van tâm lý — giới tinh của HS THPT (83.6%) cao hơn HS THCS (69. Trong bài báo cáo tại hội thảo khoa học quốc gia “Tu vấn tâm lý ~ giáo dục — Lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển" (2006), tác giả Ngô Nguyễn Thiên Trang cũng nhận định nhu cầu tham van tâm lý của HS THCS là rat cao và việc đáp ứng nhu cầu này là “cần thiết và vô cùng quan trong” [30]. Tác giả Trần Thị Minh Đức và Đỗ Hoàng (2006) trong dé tài nghiền cứu về TVHD nhìn từ góc độ giới đã đề cập đến sự khác biệt về nhu cầu tham vấn của HS nam và nữ. Theo nhóm tác giả, chuyên viên TVHĐ cần nắm được những mối quan tâm khác nhau của các em nam và nữ, phân tích tác động của mối quan hệ tham vin giữa chuyên viên tham van là nam hoặc nữ với HS nam hay nữ.
Từ đó, đề xuất việc nâng cao nhận thức về giới của các chuyên viên TVHĐ thông qua các khóa học lấy giới làm trung tâm trong quá trình tham van [9]. Trong đề tài “Khó khăn tâm lý va nhu cầu tham van của HS phổ thông”, nhóm tác giả Dương Diệu Hoa, Vũ Khánh Linh, Trần Văn Thức (2007) đã chỉ ra những khía cạnh thể hiện sự khó khăn tâm lý ở HS THPT là khó khăn trong việc xác định lựa 11 chọn nghề nghiệp cho tương lai, khó khăn trong học tập, sự ban khoăn về sự phát triển tâm sinh lý của bản thân, khó khăn trong giao tiếp với mọi người. Nghiên cứu đã chỉ ra sự cần thiết của hoạt động tham vắn trong nhà trường và những hình thức tham vấn mà HS quan tâm như tham vắn trực tiếp tại trường, qua thư, qua điện thoại { 13]. Tiếp theo đó tác giả Trần Thị Ngọc Dung (2007) đã cụ thể hóa những khó khăn tâm lý trong học tập của HS lớp 12 trong dé tải “Tim hiểu sự đáp ứng khó khăn tâm ly trong học tập của HS lớp 12 tại một số trường THPT TPHCM” như lả khó khăn về cảm xúc trí tuệ, khó khăn trong quá trình nhận thức, khó khăn trong việc xác định động cơ học tập, khó khăn về tự đánh giá bản thân, khó khăn trong hành vi ý chí [4].