Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với hơn 70% dân số sinh sống và làm việc dựa vào kinh tế nông thôn. Dù đóng vai trò trụ cột trong việc bảo đảm an ninh lương thực và tạo nguồn thu ngoại tệ, ngành nông nghiệp luôn đối mặt với rủi ro thiên tai và biến động thị trường khôn lường, khiến khoảng 17,2% số hộ nông dân chịu cú sốc thu nhập hàng năm. Tại tỉnh Bình Thuận, vùng chuyên canh thanh long lớn nhất cả nước với hơn 27.000 ha, huyện Hàm Thuận Nam giữ vị trí dẫn đầu với quy mô trên 12.000 ha. Tuy nhiên, đợt khủng hoảng giá nông sản cuối năm 2015 đã khiến giá thanh long loại 1 chạm đáy ở mức 3.000 đồng/kg, giảm hơn 65% so với các niên vụ trước do hơn 80% sản lượng phụ thuộc vào thương lái trung gian xuất khẩu.

Trước bối cảnh rủi ro mang tính hệ thống, việc xác lập công cụ bảo hiểm nông nghiệp là đòi hỏi cấp bách nhằm bảo vệ nguồn vốn cho 25.106 hộ dân trên địa bàn huyện, nơi có 79,79% số hộ phụ thuộc vào nông nghiệp và thủy sản. Nghiên cứu của tác giả Phí Tài Linh tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng nhu cầu tham gia bảo hiểm, nhận diện các yếu tố thúc đẩy quyết định của nông dân và đề xuất nhóm giải pháp nâng cao tỷ lệ bao phủ bảo hiểm cây thanh long. Phạm vi thời gian nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2015 - 2017 và dữ liệu sơ cấp thu thập năm 2018. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hiện thực hóa các chính sách an sinh của Nghị định 58/2018/NĐ-CP và Quyết định 315/2011/QĐ-TTg.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng Tháp nhu cầu của Maslow (1954) và Thuyết ERG của Alderfer (1969) để luận giải hành vi tiêu dùng dịch vụ tài chính nông thôn. Theo đó, nhu cầu an toàn và bảo toàn vốn sản xuất chỉ nảy sinh khi các điều kiện sinh tồn cơ bản được bảo đảm. Khung phân tích rủi ro dựa trên học thuyết của Frank H. Knight (1921) và Allan Willett (1951), phân định rõ rủi ro công nghệ do thiên tai, dịch bệnh và rủi ro thị trường do biến động giá cả.

Cơ sở định phí bảo hiểm vận dụng mô hình định lượng của Hồ Sĩ Sà (2010), xác định tổng phí bảo hiểm thông qua cấu trúc bốn thành phần gồm chi phí bồi thường tổn thất thuần, chi phí phòng ngừa rủi ro, quỹ dự phòng và chi phí quản lý vận hành. Các khái niệm cốt lõi bao gồm: nhu cầu có khả năng thanh toán, mức độ sẵn lòng chi trả (WTP), chuyển giao rủi ro nông nghiệp và bảo hiểm theo chỉ số năng suất.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Chi cục Thống kê huyện Hàm Thuận Nam giai đoạn 2015 - 2017 trên tổng diện tích tự nhiên 105.837,95 ha. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 261 chủ hộ trồng thanh long tại 4 xã đại diện đại diện cho các tiểu vùng sinh thái của huyện từ tháng 10/2017 đến tháng 8/2018. Cỡ mẫu 261 hộ được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp phân nhóm quy mô diện tích: quy mô nhỏ (dưới 0,5 ha), quy mô vừa (từ 0,5 đến 1,5 ha) và quy mô lớn (trên 1,5 ha).

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM) được lựa chọn để khám phá mức độ sẵn lòng chi trả của người dân khi chưa có thị trường bảo hiểm thanh long thương mại hoàn chỉnh. Đồng thời, mô hình hồi quy Logit nhị thức (Binary Logit Model) được ứng dụng nhằm xác định mức độ tác động của các biến số độc lập (trình độ học vấn, độ tuổi, quy mô canh tác, thu nhập) tới biến phụ thuộc nhị phân (đồng ý hoặc không đồng ý tham gia bảo hiểm). Đây là phương pháp phân tích tối ưu đối với các quyết định kinh tế mang tính định tính.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ sẵn sàng tham gia bảo hiểm nông nghiệp còn rất khiêm tốn: chỉ có 94/261 hộ khảo sát đồng ý tham gia, tương ứng với tỷ lệ 36,02%, trong khi có tới 63,98% hộ từ chối.

Thứ hai, nhận diện rủi ro sản xuất ở mức báo động: hơn 85% số hộ phản ánh tình trạng khô hạn kéo dài trong mùa khô (chiếm dưới 10% tổng lượng mưa năm) và dịch bệnh nấm tắc kè gây thiệt hại năng suất từ 30% đến 50%.

Thứ ba, kết quả ước lượng mô hình Logit nhị thức cho thấy bốn yếu tố đều tác động thuận chiều (hệ số dương) đến xác suất tham gia bảo hiểm của nông dân. Trong đó, trình độ học vấn của chủ hộ có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định tham gia, kế đến là quy mô diện tích canh tác và độ tuổi, trong khi yếu tố thu nhập có mức độ tác động thấp nhất.

Thứ tư, về cơ cấu sản phẩm kỳ vọng: hơn 72% hộ mong muốn tham gia gói bảo hiểm bảo đảm về sản lượng và 68% hộ yêu cầu quy trình giải quyết bồi thường phải diễn ra trong vòng 15 đến 30 ngày kể từ khi xảy ra tổn thất.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ tham gia 36,02% phản ánh sự thiếu hụt thông tin trầm trọng về các gói tài chính nông thôn. Trong giai đoạn thí điểm theo Quyết định 315/2011/QĐ-TTg trên toàn quốc, có tới 91,9% trong tổng số 304.017 hộ tham gia là hộ nghèo và cận nghèo nhờ được ngân sách hỗ trợ từ 80% đến 100% phí bảo hiểm. Tại Hàm Thuận Nam, nhóm hộ trung bình và khá có xu hướng e ngại do quy trình giám định tổn thất phức tạp và mức phí thương mại chưa tương xứng với giá trị bồi thường.

Kết quả này tương đồng với kinh nghiệm quốc tế tại Thái Lan, nơi tỷ lệ bồi thường từng tăng vọt từ 67,88% năm 2010 lên 145,31% năm 2011 do thiên tai, buộc chính phủ phải trợ giá bảo hiểm cho 480.000 ha lúa. Tại Hoa Kỳ, chương trình bảo hiểm cây trồng đạt độ bao phủ 85% nhờ chính phủ liên bang trợ cấp 67% tổng phí bảo hiểm và hỗ trợ 22% chi phí quản lý cho doanh nghiệp.

Dữ liệu nghiên cứu tại Hàm Thuận Nam khi được biểu diễn qua biểu đồ phân bố cột chồng theo quy mô diện tích và trình độ văn hóa cho thấy rõ: nhóm chủ hộ có trình độ học vấn từ cấp Trung học phổ thông trở lên và diện tích canh tác trên 1,5 ha đạt mức độ sẵn lòng chi trả phí bảo hiểm cao gấp 2,4 lần so với nhóm hộ có quy mô dưới 0,5 ha.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm vĩ mô: Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần phối hợp triển khai đồng bộ Nghị định 58/2018/NĐ-CP, áp dụng cơ chế ngân sách nhà nước hỗ trợ từ 40% đến 50% phí bảo hiểm cho các hộ nông dân sản xuất thanh long thông thường và hỗ trợ 90% cho các hộ cận nghèo trong giai đoạn 2019 - 2023.

Thứ hai, chuẩn hóa và đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm: Các doanh nghiệp bảo hiểm như Bảo Việt, Bảo Minh cần thiết kế sản phẩm bảo hiểm dựa trên chỉ số năng suất bình quân và chỉ số thời tiết địa phương thay vì giám định trực tiếp từng gốc cây. Rút ngắn thời gian giám định và chi trả bồi thường từ 45 ngày xuống tối đa 15 ngày làm việc để kịp thời phục hồi sản xuất.

Thứ ba, nâng cao nhận thức thông qua khuyến nông cơ sở: Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam và Hội Nông dân huyện cần chủ trì tổ chức định kỳ 8 đến 12 lớp tập huấn chuyên đề hàng năm tại 13 xã, thị trấn, hướng tới mục tiêu 80% hộ canh tác hiểu rõ quyền lợi và cách thức vận hành của hợp đồng bảo hiểm.

Thứ tư, xây dựng chuỗi liên kết và quỹ bảo an rủi ro: Khuyến khích các Hợp tác xã thanh long đứng ra làm đầu mối mua bảo hiểm tập thể để hưởng chiết khấu biểu phí từ 10% đến 15%, đồng thời liên kết với doanh nghiệp xuất khẩu để trích lập quỹ dự phòng hỗ trợ nông dân khi giá thị trường giảm sâu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan hoạch định chính sách và chính quyền địa phương: Cán bộ Sở Nông nghiệp, Ủy ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam có thể sử dụng dữ liệu thực chứng từ 261 phiếu điều tra để xây dựng kế hoạch hành động triển khai Nghị định 58/2018/NĐ-CP sát với thực tế địa bàn.

Nhóm doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: Các chuyên viên định phí và phát triển sản phẩm của Bảo Việt, PTI có thể ứng dụng mô hình định phí CVM để thiết kế gói sản phẩm bảo hiểm cây ăn trái nhiệt đới có mức phí hợp lý, thu hút nông dân.

Nhóm Hợp tác xã và nông dân sản xuất quy mô trang trại: Chủ trang trại và giám đốc hợp tác xã có thể tham khảo các chỉ số đánh giá rủi ro tài chính nhằm lựa chọn hình thức bảo hiểm năng suất hoặc bảo hiểm giá cả phù hợp nhất cho diện tích canh tác của đơn vị.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học: Sinh viên ngành Quản lý kinh tế, Phát triển nông thôn có thêm tài liệu tham khảo chuẩn mực về ứng dụng mô hình hồi quy Logit và phương pháp CVM trong nghiên cứu hành vi kinh tế vi mô.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ sẵn sàng tham gia bảo hiểm thanh long tại Hàm Thuận Nam chỉ đạt 36,02%?

Nguyên nhân chủ yếu do thu nhập của nông dân không ổn định, thông tin tuyên truyền chưa sâu rộng và quy trình bồi thường còn phức tạp. Nhiều hộ dân lo ngại chi phí mua bảo hiểm cao trong khi các rủi ro phổ biến như rớt giá thị trường lại chưa được chi trả thỏa đáng.

Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến nhu cầu mua bảo hiểm của hộ dân?

Kết quả phân tích mô hình hồi quy Logit nhị thức khẳng định trình độ học vấn của chủ hộ là yếu tố có tác động tích cực lớn nhất. Chủ hộ có học vấn cao nhận thức rõ ràng hơn về nguyên lý chia sẻ rủi ro và quản trị tài chính gia đình.

Mô hình Contingent Valuation Method (CVM) hỗ trợ điều tra bảo hiểm như thế nào?

Phương pháp CVM tạo dựng các kịch bản giả định về mức phí và quyền lợi bảo hiểm, giúp đo lường chính xác mức độ sẵn lòng chi trả của 261 hộ dân khi thị trường bảo hiểm nông nghiệp thương mại cho cây thanh long chưa hình thành chính thức.

Nông dân trồng thanh long ưu tiên hình thức chi trả bồi thường nào?

Có hơn 70% số hộ khảo sát mong muốn nhận bồi thường bằng tiền mặt chuyển khoản trực tiếp căn cứ trên tỷ lệ suy giảm năng suất thực tế, đồng thời yêu cầu có cơ quan giám định độc lập cùng chính quyền xã tham gia xác nhận tổn thất.

Chính sách bảo hiểm nông nghiệp tại Hoa Kỳ mang lại bài học gì cho Việt Nam?

Hoa Kỳ đạt tỷ lệ 85% nông dân tham gia bảo hiểm nhờ chính phủ hỗ trợ 67% phí bảo hiểm và đài thọ 22% chi phí quản lý cho doanh nghiệp. Điều này cho thấy vai trò tài trợ và kiến tạo thể chế của Nhà nước là điều kiện tiên quyết để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng rủi ro sản xuất và rủi ro thị trường của vùng trồng thanh long trọng điểm trên 12.000 ha tại huyện Hàm Thuận Nam.
  • Kết quả khảo sát 261 hộ chỉ ra tỷ lệ sẵn sàng tham gia bảo hiểm nông nghiệp đạt 36,02%, phản ánh tiềm năng thị trường lớn nhưng còn nhiều rào cản nhận thức và cơ chế.
  • Ứng dụng mô hình Logit nhị thức đã chứng minh trình độ học vấn và quy mô diện tích là hai yếu tố then chốt quyết định mức độ chấp nhận bảo hiểm của chủ hộ.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất bốn bên (Nhà nước, Doanh nghiệp bảo hiểm, Hợp tác xã, Người dân) cung cấp lộ trình thực thi rõ ràng theo khung khổ Nghị định 58/2018/NĐ-CP giai đoạn 2019 - 2025.
  • Các bên liên quan cần khẩn trương số hóa dữ liệu thời tiết, chuẩn hóa tiêu chuẩn VietGAP và triển khai thí điểm gói bảo hiểm chỉ số năng suất ngay trong niên vụ sản xuất tiếp theo.