Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI LỢN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi lợn trên thế giới Ngành chăn nuôi nói chung cũng như ngành chăn nuôi lợn nói riêng phát triển mạnh trong những năm gần đây, sản lượng thịt liên tục tăng. Hàng năm, tổng sản lượng thịt lợn luôn đạt cao nhất so với các loại thịt chính trên thế giới như thịt gà và thịt trâu bò.
Năm 2017, sản lượng thịt lợn đạt 111,0 triệu tấn, trong khi đó sản lượng thịt gà đạt 90,2 triệu tấn và thịt trâu bò đạt 61,4 triệu tấn (bảng 1. Sản lượng các loại thịt chính trên thế giới giai đoạn 2013-2017 (ĐVT: triệu tấn) Năm Thịt lợn Thịt gà Thịt bò, bê 2013 108,850 84,407 60,535 2014 110,652 86,765 60,815 2015 110,618 89,126 59,699 2016 109,969 89,098 60,443 2017 111,034 90,175 61,373 Thay đổi 2013/2017 2,01% 6,83% 1,38% Thịt lợn, thịt trâu và thịt bò được tính theo khối lượng thân thịt; Thịt gà được tính theo khối lượng đã được sơ chế (Nguồn: USDA, 2017) [133] Sản lượng thịt lợn toàn thế giới năm 2017 tăng 2,01% so với năm 2013. Trung Quốc là nước sản xuất thịt lợn lớn nhất trên thế giới với tổng sản lượng đạt 53,5 triệu tấn năm 2017, chiếm gần 1/2 tổng sản lượng thịt lợn toàn thế giới (bảng1.2), sau đó là Châu Âu và Mỹ. Việt Nam đứng thứ 6 trên thế giới về sản lượng thịt lợn sản xuất hàng năm.
Sản lượng thịt lợn toàn thế giới năm 2018 được dự báo sẽ tăng 1,83% so với năm 2017 (sản lượng thịt lợn thế giới ước tính đạt 113,1 triệu tấn). Trong đó, Mỹ được dự báo là quốc gia có sản lượng thịt lợn tăng mạnh nhất (tăng 3,98%), sau đó đến Trung Quốc (tăng 2,34%). Tuy nhiên, các nước thuộc liên minh Châu Âu lại có dự báo giảm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 0,21% tương đương 50 tấn thịt. Sản lượng thịt lợn năm 2018 của Việt Nam ước tính tăng 40 tấn thịt so với năm 2017.
Sản lượng thịt lợn của một số nước sản xuất chính trên thế giới giai đoạn 2013-2017 (ĐVT: triệu tấn) Năm 2013 2014 2015 2016 2017 T10/2018* Trung Quốc 54,930 56,710 54,870 52,990 53,500 54,750 EU 22,359 22,540 23,249 23,523 23,400 23,350 Mỹ 10,525 10,368 11,121 11,320 11,722 12,188 Brazil 3,335 3,400 3,519 3,700 3,725 3,755 Nga 2,400 2,510 2,615 2,870 2,960 3,000 Việt Nam 2,357 2,431 2,572 2,701 2,750 2,775 Canada 1,822 1,805 1,899 1,914 1,960 2,000 Philippines 1,388 1,402 1,463 1,540 1,585 1,635 Mexico 1,284 1,290 1,323 1,376 1,430 1,480 Nam Triều Tiên 1,252 1,200 1,217 1,266 1,307 1,332 Nhật Bản 1,309 1,264 1,254 1,279 1,275 1,270 Khác 5,889 5,732 5,516 5,490 5,420 5,535 Tổng 108,850 110,652 110,618 109,969 111,034 113,070 *: dự báo; Thịt lợn được tính theo khối lượng thân thịt (Nguồn: USDA, 2017) [133] 1. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam Chăn nuôi lợn ở Việt Nam những năm gần đây đã có bước phát triển vượt bậc. Từ chỗ chăn nuôi nhỏ lẻ ở các nông hộ chuyển sang chăn nuôi trang trại quy mô lớn, chất lượng con giống được cải thiện rõ rệt, nhiều giống lợn ngoại có năng suất cao được nhập về nước ta, đi cùng với đó là sự phát triển trên lĩnh vực thức ăn giúp nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Hiện nay, số lượng trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại cũng như lợn nái lai ngoại x ngoại chiếm 22,4% (Cục Chăn nuôi, 2016) [2], tỉ lệ lợn lai, ngoại đạt 92,7% năm 2017.
Tổng đàn lợn cả nước có xu hướng tăng từ 26,2 triệu con năm 2013 lên đến 29,0 triệu con năm 2016. Đặc biệt đàn lợn tăng mạnh ở năm 2016, tăng 4,77% so với năm 2015. Lợn nái là đối tượng được tăng nhiều nhất từ 4,0 triệu con năm 2015 lên 4,23 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triệu con năm 2016 (Tổng cục thống kê, 2016) [23]. Năm 2015-2016 là giai đoạn phát triển quá nóng của ngành chăn nuôi lợn vì cứ nuôi 1 con lợn ngoại là thu lời bình quân 1 triệu đồng [4] nên người người đưa nhau nuôi lợn, thậm chí rất nhiều doanh nghiệp không chuyên về chăn nuôi như xí nghiệp/doanh nghiệp khoáng sản, xây dựng,… cũng đổ xô vào nuôi lợn dẫn đến cung vượt xa cầu [4].
Hơn nữa, lượng thịt lợn tạm nhập tái xuất quá lớn. Khi cung vượt cầu quá lớn mà con đường xuất khẩu kể cả tiểu ngạch gần như bị đóng cửa dẫn đến thị trường sản phẩm đầu ra gặp rất nhiều khó khăn [4]. Giá lợn giảm sâu, giá lợn hơi xuất chuồng xuống quá thấp, thấp nhất trong 10 năm gần đây (Bộ NN&PTNT, 2017) [1]. Do vậy, người chăn nuôi buộc phải giảm đàn giảm quy mô chăn nuôi.
Có thể nói năm 2017 là một năm khó khăn nhất của ngành chăn nuôi lợn ở nước ta trong khoảng 10 năm trở lại đây. Số lượng đàn lợn và sản lượng thịt lợn của Việt Nam giai đoạn 2013-2017 Số lượng đàn lợn Sản lượng thịt lợn hơi xuất Năm (triệu con) chuồng (triệu tấn) 2013 26,264 3,098 2014 26,761 3,160 2015 27,750 3,228 2016 29,075 3,351 10/2017 27,406 3,733 (Nguồn: TCTK, 2017) [3] Tuy số lượng lợn năm 2017 giảm nhưng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng vẫn tăng, tăng 11,4% so với năm 2016. Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn đang có dấu hiệu phục hồi. Theo dự báo của USDA (2017) [133], tổng lượng thịt lợn năm 2018 của Việt Nam sẽ tăng 1,35%.
CỞ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Protein và axit amin 1. Khái niệm về protein và axit amin Protein là một nhóm các hợp chất đại phân tử sinh học, cùng với polysaccharide, lipid và nucleic acid, tạo nên các hợp phần của cơ thể sống [21]. Một cách cụ thể, protein là chuỗi axit amin kết hợp với nhau bằng liên kết peptit (CO-NH) [21].
Phân tử lượng của protein vì thế rất cao, khoảng 60. Cấu trúc protein của mỗi loài, ngay cả 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong cùng một cơ thể protein của mỗi mô bào cũng khác nhau. Sự khác biệt ấy là do số lượng, loại và thứ tự của các axit amin cấu tạo nên protein. Chính vì vậy, protein của từng loại thức ăn khác nhau về thành phần và thứ tự các axit amin, do đó khác nhau về hàm lượng các axit amin.
Axit amin là đơn vị cấu tạo nên protein. Trong phân tử axit amin có chứa các nhóm chức amine (-NH2) và carboxylic acid (-COOH) [21]. Các axit amin được phân biệt bằng các gốc hydrocarbon đặc trưng. Về mặt chức năng, protein trong thức ăn cung cấp các axit amin cho cơ thể [112].
Trong đường tiêu hóa, protein bị phân giải bởi các enzyme và giải phóng các axit amin ở dạng riêng lẻ hoặc các chuỗi peptide ngắn. Các axit amin và chuỗi peptide sau đó được hấp thu vào máu và vận chuyển đi khắp cơ thể [105]. Các axit amin này sẽ là thành phần cấu tạo nên nhiều loại protein khác nhau, đáp ứng các nhu cầu của cơ thể. Về mặt số lượng, protein là chất dinh dưỡng có giá thành cao trong khẩu phần; việc chuyển hóa protein thức ăn thành protein các mô trong cơ thể cần phải qua quá trình tiêu hóa, hấp thu, trao đổi chất sau hấp thu các axit amin [112].
Chất lượng protein trong thức ăn phụ thuộc vào khả năng cung cấp các axit amin (về cả số lượng và tỷ lệ) của protein [112]. Trong tự nhiên hầu hết các axit amin đều có dạng L [21]. Khi tổng hợp axit amin người ta thu được một nửa dạng L và một nửa dạng D. Qua nghiên cứu cho thấy chỉ có một số axit amin có thể sử dụng cho lợn ở cả hai dạng D và L là: DL-methionine, DL- tryptophan, còn đối với các axit amin khác chỉ sử dụng được dạng L.
D-methionine ngang bằng L-methionine, D-tryptophan có 60 tới 70% giá trị sinh học của L-tryptophan [13]. Đồng phân D của lysine và threonine ít sử dụng cho lợn [13]. Vì vậy khi phối hợp khẩu phần chúng ta cần phải biết dạng cấu tạo hóa học để lợn có thể sử dụng hiệu quả. Vai trò của protein, axit amin trong cơ thể Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng nhất cấu tạo nên các bộ phận của cơ thể.
Chúng có mặt trong thành phần nhân và chất nguyên sinh của các tế bào. Quá trình sống là sự thoái hóa và tái tạo thường xuyên của protein. Chính vì vậy, cơ thể cần một lượng protein bổ sung thông qua chế độ ăn hàng ngày. Protein là thành phần cấu trúc chủ yếu của tế bào động vật, nhiều chất đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sống của cơ thể như sắc tố hô hấp Hb để vận chuyển khí, fibrinogen tham gia vào phản ứng đông máu, các enzyme xúc tác trao đổi chất, actin và myosine để co cơ… Protein huyết tương là albumin tạo ra áp suất thể keo trong máu để duy trì ổn định nội mô, globulin là kháng thể trong máu liên quan tới phản ứng miễn dịch bảo vệ cơ thể.
Nhiều hormone điều hoà hoạt động chức năng là protein, cơ cấu di chuyển trong nhân tế bào là loại protein phức tạp nhất nằm ở nhiễm sắc thể và gen. Trong quá trình chuyển hoá, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com protein cũng có thể oxy hoá để cung cấp năng lượng cho hoạt động sống nhất là khi năng lượng chủ yếu từ nguồn lipit và gluxit được cung cấp không đủ. Vì thế trong chăn nuôi cần phải cung cấp đủ protein trong khẩu phần và có mức năng lượng hợp lý để đạt năng suất cao với các sản phẩm thịt, trứng, sữa. Protein có tính đặc hiệu rất cao vì thế cơ thể chỉ sử dụng nguồn axit amin thuỷ phân từ thức ăn trong đường tiêu hoá để tổng hợp protein đặc trưng của mình.
Phân loại theo quan điểm dinh dưỡng Hiện nay, theo quan điểm dinh dưỡng axit amin được phân loại axit amin không thay thế (axit amin thiết yếu), axit amin bán thay thế (axit amin bán thiết yếu hoặc axit amin thiết yếu có điệu kiện) và axit amin thay thế (axit amin không thiết yếu) [48]. Ở lợn có chín loại axit amin quan trọng trong quá trình thực hiện các chức năng duy trì và sản xuất bao gồm histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophan và valine do lợn không thể tổng hợp bộ khung carbon hay keto acid tương ứng [48], [112]. Các axit amin này được gọi là các axit amin “không thay thế” hay “thiết yếu”, và cần phải được cung cấp cho cơ thể. Động vật dạ dày đơn được cung cấp các axit amin này qua thức ăn.
Ngược lại, các axit amin cơ thể có khả năng tự tổng hợp được gọi là các axit amin “có thể thay thế” hay “không thiết yếu”. Các axit amin không thiết yếu ở lợn bao gồm alanine, asparagine, aspartate, glutamate, glycine và serine [112].