Chương 1 và Chương 2 là những chỉ dẫn y học về cách thức kiểm soát đau và xử lý triệu chứng cho bệnh nhân. Điều đáng chú là là cuốn sách dành hẳn Chương 3 để đề cập đến “Chăm sóc tâm lý xã hội cho người bệnh và người chăm sóc”. Đây là những hướng dẫn cụ thể về cách thức hỗ trợ tâm lý xã hội cho nhóm đối tượng này[1]. Theo “Báo cáo lượng giá dự án hỗ trợ bệnh nhi bị khủng hoảng tâm lý tại Bệnh viện Nhi Đồng I” của tác giả Chu Dũng (2014), trẻ được sinh hoạt (tiếp cận các hoạt động nâng đỡ tâm lý cho bệnh nhi) trở nên vui vẻ, quên đau, ít buồn chán khi ở bệnh viện, tâm lý ổn định hơn.
Trong số 22 em được phỏng vấn, có 20 em (90,9%) cho rằng có bớt lo sợ, căng thẳng. Mức độ giảm lo sợ, căng thẳng như sau: nhiều là 27,3% (6/22), vừa 59,1% (13/22) và ít là 13,6% (3/22). Các em cho biết đã giảm lo hãi khi chờ mổ hay thay băng là do được kể chuyện, trấn an bằng cử chỉ, lời nói nhẹ nhàng. Kết quả hoạt động tham vấn tâm lý cá nhân cho bệnh nhi và thân nhân, cho thấy trẻ hợp tác hơn trong điều trị.
Mối quan hệ của trẻ và phụ huynh tốt hơn. Ví dụ khoa Bỏng, cha mẹ trẻ không được thường xuyên vào thăm, trẻ có tâm lý bị bỏ rơi. Việc tham vấn giúp các em hiểu tại sao bố mẹ không vào thường xuyên được, giúp ổn định tâm lý của các em. Kết quả báo cáo đưa tới kết luận rằng, bệnh nhi, thân nhân bệnh nhi có vấn đề tâm lý được tiếp cận các hoạt động nâng đỡ tâm lý, tham vấn tâm lý đều cho kết quả điều trị ổn định, hợp tác hơn trong điều trị.
Rõ ràng hoạt động hỗ trợ tâm lý tác động tích cực đến quá trình điều trị và phục hồi bệnh [4]. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác giả Lê Thị Kim Oanh, Đoàn Xuân Trường, Trần Thị Kim Phương, Võ Văn Phương (2014) với đề tài “Đánh giá nhu cầu chăm sóc bệnh nhân ung thư phổi điều trị hóa chất tại Bệnh viện Đa khoa Hà Tĩnh” đã cho thấy,nhu cầu chăm sóc điều dưỡng của người bệnh ung thư phổi điều trị hóa chất là rất lớn: 100% BN cần chăm sóc, tư vấn về tinh thần tâm lý [23]. Kết quả nghiên cứu về “Đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ trên bệnh nhân ung thư tại trung tâm y học hạt nhân và ung bướu – bệnh viện Bạch Mai” cho thấy, nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ(CSGN) ở BNUT là rất lớn, với các đặc điểm: 100% cần tư vấn về bệnh, 90% cần hỗ trợ tâm lý, 89% cần điều trị, chăm sóc triệu chứng:đau, nôn, khó thở ., 88%BN có nhu cầu tư vấn về dinh dưỡng. Có thể thấy nhu cầu cần hỗ trợ về tâm lý cho nhóm bệnh nhân ung thư là rất cao [20].
Kết quả nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người lớn tuổi ở Huế, cho thấy nhu cầu được điều trị bằng thuốc là 76,5%, nhu cầu được hỗ trợ tư vấn về cách chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ là 75,3%, nhu cầu được hỗ trợ tư vấn về cách ứng phó với các triệu chứng hành vi, tâm thần của bệnh nhân sa sút trí tuệ là 63,5%. Các nhu cầu về tâm lý trị liệu chiếm 42,4%, nhu cầu về hoạt động và thể dục trị liệu chiếm gần 30%[74]. Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về nhu cầu hỗ trợ cho bệnh nhân mắc một số bệnh mãn tính từ góc độ Tâm lý học ở Việt Nam. Chính vì vậy, nghiên cứu này muốn đi sâu tìm hiểu trong bối cảnh của Việt Nam hiện tại, những người bệnh nói chung và bệnh nhân nhóm bệnh ung thư, bệnh tim mạch, tiểu đường, bệnh dạ dày– tá tràng, có những nhu cầu hỗ trợ gì? Và họ có nhu cầu cần được hỗ trợ tâm lý hay không, nếu có thì nhu cầu cần được hỗ trợ tâm lý biểu hiện như thế nào? Kết quả nghiên cứu về những vấn đề trên có thể giúp các nhân viên xã hội nói chung và các chuyên gia tâm lý nói riêng trong việc hỗ trợ tâm lý cho nhóm đối tượng này.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Một số vấn đề lý luận liên quan đến bệnh nhân và nhu cầu đƣợc hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân 1. Khái niệm Nhu cầu Theo nghĩa từ “nhu cầu” hiểu một cách chung nhất là sự đòi hỏi tất yếu, cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển. Nhu cầu là trạng thái của cá nhân xuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình và đó là nguồn gốc tích cực của cá nhân.
Trong lịch sử phát triển tâm lý học, nhu cầu là một trong những vấn đề quan trọng được các nhà tâm lý học quan tâm và nghiên cứu. Cuối thế kỷ thứ XIX, theo Henrry Murray - nhà tâm lý học người Mỹ - nhu cầu là một tổ chức cơ động, có tổ chức và hướng dẫn các quá trình nhận thức, hành vi và vì vậy, nhờ có nhu cầu mà hoạt động của con người mang tính mục đích. Theo ông, nhu cầu là một động lực xuất phát từ cơ thể và sự thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi phải có sự tác động qua lại với các tình huống xã hội, phải có sự cải tổ chúng nhằm mục đích đạt được sự thích ứng [13]. Vào những năm 30 của thế kỷ XX, đã xuất hiện hàng loạt các nghiên cứu về nhu cầu của con người.
Đầu tiên là thuyết động cơ hệ do K.Levin cho rằng, dưới sự tác động của nhu cầu nào đó, trạng thái căng thẳng sẽ xuất hiện, đồng thời ở chủ thể cũng xuất hiện sự liên tưởng có liên quan tới nhu cầu [8]. Như vậy, nhu cầu vừa là nguyên nhân làm xuất hiện căng thẳng và cũng là nguyên nhân tạo ra sự hoạt động tích cực của con người bởi vì hoạt động sẽ làm dịu sự căng thẳng. Trong tâm lý học Xô Viết, người đề cập một cách khá sâu sắc tới vấn đề nhu cầu là D. Trong cuốn Tâm lý học đại cương xuất bản năm 1940, ông đã chú ý tới khái niệm nhu cầu và ý nghĩa của nó đối với hoạt động của con người.
Theo ông, nhu cầu là yếu tố đặc trưng cho một cơ thể sống, là cội nguồn của tính tích cực và nó phát triển tương ứng với sự phát triển của 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com con người. Khi có một nhu cầu cụ thể nào đó xuất hiện, chủ thể hướng sức lực của mình vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu đó [8]. Tiếp theo đó là những công trình của nhiều nhà tâm lý học nhân văn như C. Allport và một số người khác.
Trong đó điển hình là công trình nghiên cứu của A. Ông chứng minh rằng tính xã hội nằm trong chính bản tính của con người. Con người có những nhu cầu chân chính về giao tiếp, về sự lệ thuộc, về tình yêu, về lòng kính trọng…. Ông sắp xếp các nhu cầu của con người thành hình tháp có năm bậc từ thấp đến cao [8].
Khi bàn về vấn đề nhu cầu, A.N Lêonchiev cho rằng, một nhu cầu thực sự bao giờ cũng phải là nhu cầu về một cái gì đó. Nghĩa lànhu cầu phải có đối tượng (các vật thể có khả năng thỏa mãn nhu cầu). Đối tượng này không phải xuất hiện cùng một lúc và rõ rệt với các trạng thái có tính chất nhu cầu (những ước mong, những ý muốn chủ quan của chủ thể) mà nó chỉ “phát lộ” ra trong quá trình con người hoạt động để thỏa mãn nhu cầu [19]. Như vậy, nhu cầu theo đúng nghĩa tâm lý học phải gắn liền với đối tượng của nó.
Nói cách khác, nhu cầu phải được “vật hoá”, “đối tượng hoá” vào trong thực thể khách quan, ở bên ngoài chủ thể, hướng dẫn và kích thích chủ thể về hướng đó. Sự phát triển nhu cầu là sự phát triển nội dung đối tượng của nó. Trong tâm lý học Việt Nam, khái niệm nhu cầu cũng được sử dụng nhiều trong các tài liệu và các công trình nghiên cứu. Theo tác giả Phạm Minh Hạc, “Nhu cầu là một thuộc tính nhân cách, biểu thị mối quan hệ tích cực của cá nhân với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần phải được thoả mãn trong điều kiện nhất định để có thể tồn tại và phát triển” [8].
Tương tự như vậy, tác giả Nguyễn Quang Uẩn cũng cho rằng: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển”[28].Theo tác giả Vũ Dũng: “Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu để cá nhân tồn tại và phát triển trong điều kiện nhất định” [3]. Theo Lê Khanh, 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trần Trọng Thủy, Phạm Minh Hạc trong cuốn Tâm lý học thì cho rằng “Nhu cầu là đòi hỏi ở môi trường xung quanh những cái cần thiết (không thể thiếu) cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân” [7]. Trần Hiệp trong Tâm lý học xã hội cho rằng “Nhu cầu là một trạng thái tâm lý xuất hiện khi cá nhân cảm thấy cần phải có điều kiện nhất định để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình. Trạng thái tâm lý đó kích thích con người hoạt động nhằm đạt được những điều mình mong muốn” [11].
Như vậy, có thể hiểu nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý, chi phối mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống tâm lý con người. Mọi hành vi của con người đều do sự thúc đẩy của một hay nhiều nhu cầu nào đó.Nhu cầu là điều kiện cần thiết để bảo tồn và phát triển, được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức [9]. Vì thế, cá nhân phải nổ lực tìm kiếm đối tượng thoả mãn nhu cầu của mình để lập lại trạng thái thăng bằng và ổn định, nói cách khác, nhu cầu là nguồn gốc tích cực của hoạt động cá nhân. Từ những quan điểm trên, cho thấy, nhu cầu của con người vừa mang tính tích cực vừa mang tính thụ động.
Cụ thể: nhu cầu là sự đòi hỏi cần được thỏa mãn của chủ thể, nhưng được thỏa mãn hay không phụ thuộc vào hệ thống các đối tượng trong những điều kiện cụ thể (tính thụ động của nhu cầu), mặt khác, nhu cầu sẽ thúc đẩy chủ thể tích cực tìm kiếm đối tượng, phương thức, phương tiện thỏa mãn nhu cầu, nghĩa là nhu cầu thúc đẩy hoạt động, kích thích hoạt động (tính tích cực của nhu cầu).