mở đầu; 01 bài Văn học dân gian là gì? Và 01 bài Ôn tập về thần thoại, truyền thuyết. Văn học dân gian ở Văn học 6 tập II, có 03 bài học, gồm 16 truyện chia theo: “truyện cổ tích (06 truyện); và 01 bài “Ôn tập về truyện cổ tích – truyện ngụ ngôn”. Qua đây, có thể nói, chương trình về Văn học dân gian ở Văn học 6 (trước cải cách) có tính sư phạm và khoa học, phân chia tương đối rành mạch, cụ thể và phong phú về nội dung nên học sinh chắc dễ tiếp thu và học tập được nhiều, nhất là đối với việc phân loại và phân kỳ về Văn học dân gian theo tiến trình lịch sử của vấn đề. + Ở khung chương trình Văn học của Ngữ Văn 6, sách sau cải cách thì khác.
Chương trình về Văn học dân gian chỉ dạy ở học kỳ I trong Ngữ Văn 6, tập I (Ngữ Văn 6 tập I), gồm có 20 truyện cả thảy, được soạn thảo trong 16 bài, và cũng hoàn toàn không phân loại và phân kỳ theo lịch sử của vấn đề như trong sách giáo khoa Văn học 6, trước cải cách. Về Văn học dân gian trong tổng số 47 truyện chỉ có khoảng 10 truyện giống nhau giữa 2 khung chương trình của sách giáo khoa trước và sau cải cách (Văn học 6 và Ngữ Văn 6) – Đó là các truyện: “Con rồng cháu tiên; Sơn tinh Thủy tinh; Thánh Gióng; Sự tích Hồ Gươm; Bánh chưng, bánh giày; Sọ Dừa; Em bé thông minh; Thày bói xem voi; Đeo nhạc cho mèo; Chân, tay, tai, mũi, miệng”. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Tuy nhiên, cái khác ở đây lại có “Chương trình địa phương (phần Văn và Tập làm văn)”, gồm 02 phần: “I. Tìm hiểu ở nhà: Có nội dung vắn tắt như: - Hãy tìm hiểu, quê hương nơi mình đang sinh sống có các thể loại truyện như đã học mà thể hiện rõ màu sắc địa phương…, Những truyện dân gian địa phương ấy giống và khác gì với những truyện dân gian đã học; Ở địa phương còn có các sinh hoạt Văn học dân gian nào khác (chọi gà, chọi trâu, chơi đu, đấu vật, hát quan họ, v.
Cuối cùng, mỗi học sinh sẽ phải tập kể lại 01 truyện hoặc tập giới thiệu một trò chơi địa phương trước lớp. Hoạt động trên lớp: Trao đổi nhóm; Lựa chọn nội dung sẽ trình bày trước lớp: Kể miệng; đọc truyện đã sưu tầm được; giới thiệu hoặc biểu diễn trò chơi dân gian địa phương mà mình yêu thích, v.v… Đây là một dạng trình bày có chọn lọc rất hữu ích với học sinh Trung học cơ sở vì tính giáo dục qua thực tiễn, nhưng thực sự phải được thực hiện một cách nghiêm túc và phải được tổng kết đúng đắn, rút ra được những ưu khuyết điểm nhất định để hoàn thiện và tiếp tục chương trình… b) So sánh phần Tiếng Việt lớp 6 trước cải cách và phần Tiếng Việt trong sách Ngữ văn lớp 6 sau cải cách (xem phần Phụ lục): Nhận xét sơ bộ: - Chỉ có 04 bài học giống nhau: Tuy nhiên, trong số này, tên gọi của 02 bài lại khác nhau: - “Từ, từ đơn và từ phức” (Tiếng Việt 6 tập I, trước cải cách) và “Từ và cấu tạo từ” (Ngữ Văn 6 tập I, sau cải cách); - “Từ nhiều nghĩa” (sách trước cải cách) và “Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ” (sách sau cải cách). - Sự phân bố thời gian giảng dạy ở các bài học này cũng khá khác nhau: + “Từ, từ đơn và từ phức” ở sách giáo khoa trước cải cách, được bố trí ở tiết 1, còn “Từ và cấu tạo từ” ở sách giáo khoa sau cải cách, được đặt trong bài 1, tiết thứ 3. + “Nghĩa của từ”, sách giáo khoa trước cải cách, ở tiết 2, trong khi đó “Nghĩa của từ” ở sách giáo khoa sau cải cách lại ở Bài 3, tiết 2.
+ “Từ nhiều nghĩa”, sách giáo khoa trước cải cách ở tiết 3, còn ở sách giáo khoa sau cải cách lại ở Bài 5, tiết thứ 2. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + “Từ mượn”, sách giáo khoa trước cải cách, xếp ở tiết 8, còn ở sách giáo khoa sau cải cách lại ở Bài 2, tiết thứ 2. - Sách giáo khoa sau cải cách (Ngữ Văn 6 tập I) không có đến 08 bài học so với sách trước cải cách (Tiếng Việt 6 tập I). Đó là: Từ đồng nghĩa; - Từ trái nghĩa; - Từ đồng âm; - Cấu tạo từ ghép; - Nghĩa của từ ghép; - Cấu tạo của từ ghép Hán Việt; - Nghĩa của yếu tố Hán Việt; - Mở rộng vốn yếu tố Hán Việt.
- Sách giáo khoa trước cải cách (Tiếng Việt 6 tập I) không có đến 09 bài học so với sách giáo khoa sau cải cách (Ngữ Văn 6 tập I). Đó là: - Chữa lỗi dùng từ; - Danh từ; - Cụm danh từ; - Số từ và lượng từ; - Chỉ từ; - Động từ, Cụm động từ; - Tính từ và Cụm tính từ; - Chương trình địa phương; - Rèn luyện chính tả; - Ôn tập tiếng Việt; - Kiểm tra tiếng Việt. - Các bài học được sắp xếp theo trình tự từng tiết một như: Tiết 1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 14, 16 ở sách giáo khoa trước cải cách (Tiếng Việt 6 tập I). Còn ở sách giáo khoa sau cải cách (Ngữ Văn 6 tập I) lại được bố trí theo từng bài như: Bài 1, Bài 2, Bài 3, Bài 5, Bài 6, 7, Bài 8,10, Bài 11, Bài 12, Bài 13, Bài 14, Bài 15, Bài 16, Bài 17, mà phần tiếng Việt chỉ là những tiết học xen kẽ trong từng bài.
- Về cấu tạo nội dung bài học của Ngữ Văn 6 tập I so với Tiếng Việt 6 tập I. - Ở sách Ngữ Văn 6 tập I sau cải cách, mục “Từ và cấu tạo từ” được xếp ở Bài 1, tiết thứ 3, sau 02 văn bản có tên là “Con rồng cháu tiên” và “Bánh chưng bánh dày”. Tiết cuối của Bài 1 là “Giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt”. Mục “Từ và cấu tạo từ” gồm 04 nội dung được đánh số như sau: “I.
Từ là gì”; “II. Từ đơn và từ phức”; “III. Luyện tập; Đọc thêm. Và tất cả các nội dung trên chỉ được trình bày từ trang 13 đến nửa trang 15, trong đó có 02 phần “ghi nhớ”.
Ghi nhớ thứ nhất (trang 13) là: “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu”. Ghi nhớ thứ hai (trang 14) là: “Tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ. Từ gồm một tiếng là từ đơn. Từ gồm hai tiếng hoặc nhiều tiếng là từ phức.
Những từ phức ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa được gọi là từ ghép. Còn những tiếng có quan hệ láy âm giữa các tiếng được gọi là từ láy”. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các ví dụ được dùng cho mục “Từ là gì” và cho mục “Từ đơn và từ phức” (Trang 13) đều được trích ở văn bản “Con rồng cháu Tiên” và “Bánh chưng bánh dày” cùng ở Bài 1. Cụ thể như sau: “1.
Lập danh sách các tiếng và danh sách các từ trong câu sau, biết rằng mỗi từ đã được phân cách với từ khác bằng dấu gạch chéo: Thần / dạy / dân / cách / trồng trọt / chăn nuôi / và / cách / ăn ở/ (Con rồng cháu tiên). Dựa vào những kiến thức đã học ở bậc tiểu học, hãy điền các từ trong câu dưới đây vào bảng phân loại: Từ / đấy / nước / ta / chăm / nghề / trồng trọt / chăn nuôi / và / có / tục / ngày / tết / làm / bánh chưng / bánh giầy / (Bánh chưng bánh giầy). Ở phần luyện tập trang 14 cũng vậy, đa phần những tư liệu được trích làm bài tập đều lấy ngay trong Bài 1, từ các văn bản “Con Rồng cháu Tiên” và “Bánh chưng bành giầy”. Trong khi đó, bài “Từ, từ đơn và từ phức” ở tiếng Việt 6, tập I (trước cải cách) lại để ở phần Từ ngữ, tiết 1.
Cái khác khá cơ bản so với Ngữ Văn 6 tập I sau cải cách, là trong mục Bài học ở sách này (trang 04) có nêu một “định nghĩa” về từ như sau: “Từ là đơn vị ngôn ngữ có nghĩa biểu thị sự vật, hoạt động, tính chất, số lượng, quan hệ biểu thị sự nghi vấn, sự xúc cảm,v. Có thể nói, định nghĩa từ là một việc làm vô cùng khó. Trong ngôn ngữ học đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về từ. Cách định nghĩa tốt nhất, phù hợp nhất cho học sinh Trung học cơ sở là chỉ ra cụ thể các hiện tượng ngôn ngữ được coi là từ.
Sách Tiếng Việt 6 tập I (trước cải cách) đã dùng cách định nghĩa này, tức là sách đã chỉ ra được các loại thực từ (danh từ, động từ, tính từ), số từ, hư từ (các từ biểu thị các quan hệ ngữ pháp), các từ chỉ sự nghi vấn, xúc cảm,v. Tuy vậy, còn với các từ loại khác như đại từ (này, kia, đó, nọ, ấy…), cảm thán từ (ôi, ái, ối…) thì sao? Thêm nữa, những thực từ có nghĩa trừu tượng thì cũng sẽ không lọt được vào định nghĩa này của sách? Còn cái khác nữa ở đây so với Ngữ Văn 6 tập I (sau cải cách) là bên cạnh việc sách này Tiếng Việt 6 tập I (trước cải cách) đã nói đến từ, từ đơn thì cũng chỉ nói đến khái niệm của từ phức nói chung: “… Từ gồm có hai hay nhiều tiếng gọi là từ phức” (trang 04), chứ chưa cho biết khi nào được gọi là từ ghép và khi nào là từ 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phần được gọi là “ghi nhớ” cho toàn bài của sách được ký hiệu bằng 02 gạch dọc song song, có nội dung như sau: “Từ là đơn vị ngôn ngữ có nghĩa, dùng để đặt câu. Từ chỉ có một tiếng là từ đơn.
Từ có hai hoặc nhiều tiếng là từ phức” (trang 04). - Mục “Từ mượn” ở Ngữ Văn 6, tập I (sau cải cách), được xếp ở Bài 2, tiết 2 (từ trang 24 đến trang 27), gồm: “I. Từ thuần Việt và tự mượn”, có phần “ghi nhớ” khá cơ bản, tóm tắt như sau: “Ngoài từ Thuần Việt… chúng ta còn vay mượn nhiều từ… mà tiếng Việt chưa có từ thật thích hợp để biểu thị. Đó là từ mượn.
Bộ phận từ mượn quan trọng nhất… là từ mượn tiếng Hán (từ gốc Hán và từ Hán – Việt), bên cạnh đó còn mượn từ của tiếng Pháp, Anh, Nga… Các từ mượn đã được Việt hóa thì viết như thuần Việt. Với những từ mượn chưa Việt hóa hoàn toàn… những từ gồm trên hai tiếng nên dùng gạch nối…” (trang 25).