chương 1 – Thông tư 02/2013 TT-NHNN ngày 21/01/2013 do Thống đốc NHNNVN ban hành: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. 6 Nguyễn Minh Kiều (2011) cho rằng: “Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay nợ có thể mất khả năng trả nợ một khoản vay nào đó. Trong hoạt động tín dụng, khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng thì đó mới chỉ là một giao dịch chưa hoàn thành. Giao dịch tín dụng chỉ được xem là hoàn thành khi nào ngân hàng thu hồi về được khoản tín dụng gồm cả gốc và lãi”.
Theo Nguyễn Thị Thùy Dương (2014) thì “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ”. Nguyễn Thị Sâm (2015) định nghĩa rằng: “Rủi ro tín dụng là ngân hàng không thu được đầy đủ các khoản cho vay bao gồm cả khoản gốc và lãi, hoặc việc thanh toán các khoản nợ (gồm gốc và lãi vay) không đúng hạn. Điều này xảy ra khi khách hàng vay tiền của ngân hàng không có khả năng trả nợ hoặc cố ý không trả nợ”.
Đối với Nguyễn Thị Thu Trâm (2007) thì “Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng. Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ. Hoặc nói một cách cụ thể hơn, thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt giá trị và thời hạn”. Định nghĩa của Nguyễn Thị Thủy Vân (2013) rằng: “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay nhưng không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, hoặc trả không đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng”.
Từ các khái niệm khác nhau ở trên, ta có thể định nghĩa rủi ro tín dụng là khả năng có thể xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán hay hoàn trả một phần hoặc không đầy đủ cả gốc và lãi hoặc khách hàng không có thiện chí trong việc hoàn trả nợ cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Một trong những hoạt động chính của NHTM là hoạt động cho vay nên rủi ro tín dụng là một nhân tố hết sức quan trọng và mang tính quyết định. Vì điều này có thể làm giảm hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của ngân hàng, thậm chí là phá sản. Chính vì điều đó mà các NHTM luôn đặt ra mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, đồng thời tối thiểu hóa rủi ro.
Để đạt được mục tiêu, đòi hỏi NH phải có những giải pháp thích hợp để quản lý và phòng ngừa rủi ro tín dụng nhanh chóng, kịp thời.2 Phân loại rủi ro tín dụng Sơ đồ 2.1: Phân loại rủi ro tín dụng tại ACB Ông Ích Khiêm Rủi ro lựa chọn Rủi ro giao dịch Rủi ro bảo đảm Rủi ro nghiệp vụ Rủi ro tín dụng Rủi ro nội tại Rủi ro danh mục Rủi ro tập trung Nguồn: Tác giả tự thu thập tại Bộ phận tư vấn tài chính cá nhân của OIK Theo sơ đồ trên, rủi ro tín dụng được chia thành 2 loại là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục, trong đó: − Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng, nguyên nhân là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Trong rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ: + Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, đó là khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn không hiệu quả để quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật quản lý các khoản cho vay có vấn đề.
− Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng, nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng và được chia thành 2 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung: + Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm và mang tính chất riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng. 8 + Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho quá nhiều đối với một khách hàng.3 Đo lường rủi ro tín dụng Có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của NHTM. Ví dụ như các chỉ tiêu sau: Chỉ tiêu dư nợ Dư nợ cho vay KHCN/Tổng dư nợ cho vay Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ dư nợ cho vay khách hàng cá nhân so với tổng dư nợ cho vay của ngân hàng, tức là phản ánh quy mô của việc cho vay KHCN. Tỷ lệ này càng tăng cao sẽ cho thấy NH chú trọng đến hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân.
Dư nợ cho vay KHCN/Tổng tài sản Chỉ tiêu này phản ánh tương quan so sánh về quy mô cho vay khách hàng cá nhân với tổng tài sản của ngân hàng, đồng thời cho phép đánh giá tính hợp lý trong cơ cấu sự dụng vốn ngân hàng. Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ các khoản cho vay KHCN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngân hàng. Thông thường các ngân hàng thường thích phân tán rủi ro bằng cách đa dạng hóa các tài sản sinh lời của mình hơn là tập trung vào một tài sản có khả năng sinh lời cao nhưng lại tiềm ẩn trong nó một nguy cơ rủi ro lớn. Chỉ tiêu nợ quá hạn Dư nợ cho vay KHCN quá hạn/Tổng dư nợ cho vay KHCN Tỷ lệ này thể hiện chất lượng tín dụng và gián tiếp thể hiện quy mô của các khoản cho vay khách hàng cá nhân có vấn đề.
Nếu dùng chỉ tiêu này để đo lường rủi ro tín dụng thì chưa phản ánh chính xác được mức độ rủi ro. Bởi lẽ, có thể giảm tỷ lệ này bằng cách tăng dư nợ cho vay KHCN hoặc dùng biện pháp gia hạn nợ. Mặc khác, dư nợ cho vay KHCN quá hạn chưa phải là tổn thất của NH vì không phải tất cả các khoản nợ này đều không thể thu hồi được. Như vậy tỷ lệ này chỉ là chỉ tiêu gián tiếp để đo lường RRTD.
Dư nợ cho vay KHCN khó đòi/Tổng dư nợ cho vay KHCN quá hạn Đây là chỉ tiêu trực tiếp phản ánh mức độ rủi ro tín dụng. Nó cho biết, trong tổng dư nợ cho vay khách hàng cá nhân quá hạn có bao nhiêu dư nợ cho vay KHCN quá hạn được xác định là khó đòi và ngân hàng sẽ tổn thất. Vì vậy, NH luôn phải tìm biện pháp giảm tỷ lệ này bằng cách giảm dư nợ cho vay KHCN khó đòi, tích cực đôn đốc thu hồi các khoản nợ đó. Nếu không NH sẽ phải sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp.
Chỉ tiêu nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng. Bởi các chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh độ rủi 9 ro khác nhau rằng ngân hàng có tỷ lệ dư nợ cho vay khách hàng cá nhân quá hạn trên tổng dư nợ cho vay KHCN mà NH có thể bị tổn thất là bao nhiêu và trong dư nợ cho vay KHCN đó có bao nhiêu tỷ lệ dư nợ cho vay KHCN khó đòi mà NH sẽ bị tổn thất. Vì vậy, các ngân hàng đều mong muốn hạ thấp tỷ lệ này xuống đến mức thấp nhất. Tỷ lệ tổn thất tín dụng Tổn thất tín dụng khách hàng cá nhân được thể hiện là những khoản vay không thu hồi được, phản ánh giá trị tổn thất do hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân gây nên và được xác định như sau: Tổng giá trị tổn thất Tổng giá trị khoản vay Tổng giá trị khoản vay = – tín dụng KHCN KHCN bị tổn thất KHCN thu hồi được Tỷ lệ tổn thất tín dụng khách hàng cá nhân sau đây sẽ phản ánh quy mô tổn thất của việc cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng: Tổng giá trị tổn thất tín dụng KHCN Tỷ lệ tổn thất tín dụng KHCN = Tổng dư nợ cho vay KHCN Tỷ lệ này thể hiện sự tổn thất thực tế của ngân hàng trong việc cho vay khách hàng cá nhân đối với những khoản vay chỉ thu hồi được một phần hoặc không thu hồi được trên tổng dư nợ cho vay khách hàng cá nhân.
Các ngân hàng đều mong muốn tỷ lệ này thấp, bởi họ mong khách hàng của mình hoàn tất việc trả nợ như đã cam kết để ngân hàng không phải chịu bất kỳ tổn thất nào. Trong nghiên cứu này, RRTD được đo lường thông qua chất lượng các khoản vay biểu hiện bằng trạng thái nhóm nợ của khách hàng. Theo khoản 1 – điều 6 – Mục 1 – Chương II của Văn bản hợp nhất số 22/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014 do NHNNVN ban hành thì các khoản vay này của các tổ chức tín dụng sẽ được chia thành 05 nhóm: − Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn. Các khoản nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại và cơ cấu nợ lại vào nợ nhóm 1.
− Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày. Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.