Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố tác động đến việc công bố thông tin kế toán môi trường nghiên cứu tại các doanh nghiệp thủy sản việt nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu ueh các nhân tố tác động đến việc công bố thông tin kế toán môi trường nghiên cứu tại các doanh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Chuyên ngành

Kế toán - Kiểm toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

318
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về công bố thông tin kế toán môi trường tại doanh nghiệp thủy sản Việt Nam

Công bố thông tin kế toán môi trường (KTMT) là một phần quan trọng trong việc quản lý và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thủy sản tại Việt Nam. Việc công bố này không chỉ giúp doanh nghiệp thể hiện trách nhiệm xã hội mà còn đáp ứng yêu cầu từ các bên liên quan như chính phủ, nhà đầu tư và cộng đồng. Theo nghiên cứu của Lâm Thị Trúc Linh (2019), việc công bố thông tin KTMT tại các doanh nghiệp thủy sản còn giúp nâng cao uy tín và tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

1.1. Khái niệm và vai trò của công bố thông tin kế toán môi trường

Công bố thông tin KTMT là việc cung cấp thông tin về chi phí môi trường, tài sản và nợ phải trả liên quan đến môi trường. Điều này giúp các bên liên quan hiểu rõ hơn về tác động của doanh nghiệp đến môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường mà doanh nghiệp thực hiện.

1.2. Tình hình công bố thông tin kế toán môi trường tại doanh nghiệp thủy sản

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp thủy sản tại Việt Nam đã bắt đầu chú trọng đến việc công bố thông tin KTMT. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện đầy đủ, dẫn đến việc thiếu minh bạch trong hoạt động kinh doanh.

II. Các nhân tố tác động đến công bố thông tin kế toán môi trường tại doanh nghiệp thủy sản

Nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin KTMT tại các doanh nghiệp thủy sản. Những nhân tố này bao gồm áp lực từ chính phủ, sự hiểu biết của kế toán về KTMT, và thái độ của nhà quản lý đối với bảo vệ môi trường. Việc nhận diện và phân tích các nhân tố này là rất cần thiết để cải thiện quy trình công bố thông tin.

2.1. Áp lực từ chính phủ và các bên liên quan

Áp lực từ chính phủ và các bên liên quan như nhà đầu tư, cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy doanh nghiệp công bố thông tin KTMT. Các quy định pháp lý và yêu cầu từ các tổ chức tài chính cũng tạo ra động lực cho doanh nghiệp.

2.2. Trình độ am hiểu về kế toán môi trường của nhân viên

Trình độ am hiểu về KTMT của nhân viên kế toán ảnh hưởng lớn đến khả năng công bố thông tin. Doanh nghiệp cần đầu tư vào đào tạo và nâng cao nhận thức cho nhân viên về các vấn đề môi trường.

2.3. Thái độ của nhà quản lý về bảo vệ môi trường

Thái độ tích cực của nhà quản lý đối với bảo vệ môi trường sẽ thúc đẩy việc công bố thông tin KTMT. Nhà quản lý cần nhận thức rõ ràng về lợi ích của việc công bố thông tin này.

III. Phương pháp nghiên cứu và giải pháp cải thiện công bố thông tin kế toán môi trường

Để nghiên cứu các nhân tố tác động đến công bố thông tin KTMT, phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng đã được áp dụng. Các giải pháp cải thiện bao gồm việc tăng cường đào tạo cho nhân viên và nâng cao nhận thức của nhà quản lý về tầm quan trọng của công bố thông tin.

3.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng để thu thập thông tin từ các chuyên gia và nhà quản lý trong ngành thủy sản. Qua đó, các nhân tố tác động đã được xác định và phân tích.

3.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua khảo sát với các doanh nghiệp thủy sản. Kết quả khảo sát giúp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc công bố thông tin KTMT.

3.3. Giải pháp cải thiện công bố thông tin

Doanh nghiệp cần xây dựng các chương trình đào tạo về KTMT cho nhân viên và tạo ra môi trường làm việc khuyến khích việc công bố thông tin. Đồng thời, cần có sự hỗ trợ từ chính phủ trong việc xây dựng các quy định rõ ràng về công bố thông tin.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về công bố thông tin kế toán môi trường

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc công bố thông tin KTMT không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín mà còn tạo ra lợi ích kinh tế. Các doanh nghiệp thủy sản có sự minh bạch trong công bố thông tin thường nhận được sự tin tưởng từ khách hàng và các bên liên quan.

4.1. Lợi ích kinh tế từ việc công bố thông tin

Việc công bố thông tin KTMT giúp doanh nghiệp thu hút đầu tư và tăng cường mối quan hệ với các bên liên quan. Doanh nghiệp có thể giảm thiểu rủi ro tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động.

4.2. Minh bạch trong hoạt động kinh doanh

Minh bạch trong công bố thông tin KTMT giúp doanh nghiệp xây dựng lòng tin với khách hàng và cộng đồng. Điều này không chỉ cải thiện hình ảnh doanh nghiệp mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh.

V. Kết luận và tương lai của công bố thông tin kế toán môi trường tại doanh nghiệp thủy sản

Công bố thông tin KTMT là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển bền vững của các doanh nghiệp thủy sản tại Việt Nam. Tương lai của công bố thông tin này sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi trong nhận thức của doanh nghiệp và các bên liên quan về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường.

5.1. Tương lai của công bố thông tin kế toán môi trường

Trong tương lai, việc công bố thông tin KTMT sẽ trở thành một yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp thủy sản. Các quy định pháp lý sẽ ngày càng chặt chẽ hơn, yêu cầu doanh nghiệp phải minh bạch hơn trong hoạt động của mình.

5.2. Khuyến nghị cho doanh nghiệp thủy sản

Doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực công bố thông tin KTMT và xây dựng các chiến lược bảo vệ môi trường hiệu quả. Việc này không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ quy định mà còn tạo ra giá trị bền vững cho doanh nghiệp.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố tác động đến việc công bố thông tin kế toán môi trường nghiên cứu tại các doanh nghiệp thủy sản việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước, trình bày các nghiên cứu về công bố thông tin môi trường, các nhân tố tác động đến công bố thông tin môi trường ở nước ngoài, tại Việt Nam. Từ đó tổng kết các kết quả nghiên cứu liên quan đến luận án, xác định khe hổng trong nghiên cứu và đưa ra định hướng nghiên cứu cho Luận án. Chương 2: Cơ sở lý thuyết, trình bày lý thuyết về KTMT và công bố thông tin KTMT; các lý thuyết nền, việc ứng dụng lý thuyết nền vào nghiên cứu trước có liên quan; vận dung lý thuyết nền và các nghiên cứu trước biện luận xác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 định nhân tố tác động đến việc công bố thông tin KTMT tại các DN thủy sản Việt Nam; tổng hợp các nhân tố tác động đến việc công bố thông tin KTMT. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, mô tả chi tiết phương pháp nghiên cứu của luận án.

Đầu tiên phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng để xác định các nhân tố tác động sau đó sử dụng phương pháp định lượng nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng các nhân tố tác động đến việc công bố thông tin KTMT tại các DN thủy sản Việt Nam. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận, trình bày kết quả nghiên cứu định tính từ việc nghiên cứu tài liệu và phỏng vấn chuyên gia đã xây dựng mô hình các nhân tố tác động và thang đo các nhân tố tác động đến việc công bố thông tin KTMT. Đánh giá độ tin cậy của thang đo và khám phá các nhân tố tác động, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc công bố thông tin KTMT tại các DN thủy sản Việt Nam bằng phương pháp định lượng. Từ kết quả trên so sánh phát hiện mới với các nghiên cứu trước và đưa ra bàn luận Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách, đưa ra kết luận và hàm ý chính sách nhằm gia tăng việc công bố thông tin KTMT tại các DN thủy sản Việt Nam.

Những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo cũng được chỉ ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương 1 được trình bày thành 5 mục chính. Cụ thể ở mục 1.1 trình bày các nghiên cứu nước ngoài về KTMT và công bố thông tin KTMT, các nhân tố tác động đến công bố thông tin KTMT.2 mô tả các nghiên cứu về KTMT tại Việt Nam sau đó nhận xét các công trình nghiên cứu ở phần 1.

Khe hổng nghiên cứu được nhận diện ở phần 1.4 và định hướng nghiên cứu thực hiện ở phần 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 1.1 Kế toán môi trường (KTMT) KTMT xuất hiện từ đầu những năm 1970, giai đoạn đầu được gọi là kế toán xã hội và môi trường. Kế toán xã hội và môi trường là việc tự nguyện công bố thông tin, cả định tính và định lượng được thực hiện bởi các công ty để thông báo đến các đối tượng có liên quan những ảnh hưởng môi trường từ hoạt động của họ. Công bố định lượng có thể là các khoản mục tài chính hoặc phi tài chính (Mathews,1993) Sự phát triển Kế toán xã hội và môi trường được chia thành 3 giai đoạn 1971-1980; 1981-1990; 1991 đến 1995. Mục tiêu của Kế toán xã hội và môi trường nhằm mở rộng trách nhiệm giải trình của công ty với các cổ đông bằng việc thúc đẩy công bố các thông tin về xã hội, môi trường.

Giai đoạn đầu tiên chưa có khung lý thuyết mà chỉ có một số nghiên cứu thực nghiệm có tồn tại hay không việc công bố thông tin có liên quan đến khía cạnh kế toán xã hội, còn thông tin môi trường chưa được quan tâm, số lượng công bố rất ít thể hiện số trang, dòng, từ. Kết quả nghiên cứu từ báo cáo thường niên của 500 công ty cho thấy, tỷ lệ công bố thông tin xã hội khoảng 90% nhưng khối lượng trung bình khoảng một nửa một trang. Đến giai đoạn 1981-1990, việc công bố thông tin môi trường được quan tâm, thuật ngữ KTMT được nhấn mạnh trong thời gian này bởi nhu cầu BVMT. Có một số quy định liên quan đến môi trường nhưng chưa thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Đến giai đoạn 1991-1995 KTMT phát triển thúc đẩy các nghiên cứu về lĩnh vực này và cũng có một số các quy định và luật có liên quan đến vấn đề môi trường (Mathews, 1997) Một nghiên cứu khác của Mathews cho thấy trong giai đoạn từ 1995- 2000 có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến KTMT cụ thể là vấn đề công bố thông tin môi trường. Cũng từ năm 1990 trở về sau, có nhiều nghiên cứu về khái niệm KTMT KTMT bao gồm tất cả các lĩnh vực kế toán có thể bị ảnh hưởng bởi phản ứng của doanh nghiệp đối với các vấn đề môi trường, bao gồm lĩnh vực mới là kế toán sinh thái (Gray & cộng sự, 1993). Còn IMA (1996) nhấn mạnh đến khía cạnh chi phí: KTMT là việc xác định, đo lường và phân bổ CPMT, kết hợp CPMT trong các quyết định kinh tế, công bố thông tin cho các bên có liên quan. KTMT cũng là một bộ phận của kế toán nhằm ghi chép, phân tích và báo cáo thông tin về các tác động của DN tới môi trường và tới hiệu quả kinh tế - sinh thái của đơn vị (Schaltergger & cộng sự, 2000).

Thông tin KTMT được sử dụng trong nội bộ, tạo ra thông tin môi trường để giúp đưa ra các quyết định quản lý về định giá, kiểm soát chi phí và ngân sách vốn; hoặc công bố cho các đối tượng bên ngoài có quan tâm như công chúng, nhà đầu tư, các tổ chức tài chính (Bartolomeo& cộng sự, 2000). KTQTMT hướng đến cung cấp thông tin môi trường trong nội bộ giúp quản lý chi phí môi trường tốt hơn (Yakhou & cộng sự, 2003). Đến năm 2005, Bộ Môi trường Nhật Bản tiếp cận KTMT theo quan điểm phát triển bền vững, cơ quan này khẳng định: KTMT có mục tiêu hướng tới sự phát triển bền vững, vì cộng đồng, theo đuổi các hoạt động BVMT đồng thời công bố thông tin cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng (MOE, 2005).2 Công bố thông tin KTMT Công bố thông tin KTMT là công bố thông tin kế toán về môi trường trên bảng CĐKT, báo cáo KQHĐKD và thuyết minh BCTC. Các thông tin phải công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 bố gồm chi phí môi trường, tài sản môi trường, nợ phải trả môi trường (Senn, 2018).

Nghiên cứu về công bố thông tin môi trường chỉ được thực hiện ở một số ít các công ty vào cuối những năm 1980, tuy nhiên từ những năm 1990 lại trở thành chủ đề được các nhà nghiên cứu quan tâm (Barbu & cộng sự, 2012). Còn Mathews (2000) nhận thấy rằng phần lớn các nghiên cứu này được tiến hành trong bối cảnh các nước phát triển và tập trung vào thực hành công bố thông tin môi trường. Đối với các nước đang phát triển khẳng định rằng mô hình kế toán thông thường không thể phục vụ nhu cầu hiện tại vì nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của họ khác với nhu cầu của các nước phát triển. Cần có các quy định bắt buộc cho các công ty báo cáo về tác động xã hội và môi trường do việc khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức trong tiến trình phát triển kinh tế.

Công bố thông tin KTMT ở các nước phát triển tiên tiến hơn so với những nghiên cứu đã được thực hiện ở các nước đang phát triển. Ở các nước phát triển, các nhà nghiên cứu đã điều tra các yếu tố quyết định và chất lượng của việc công bố thông tin KTMT; điều tra mối quan hệ giữa công bố thông tin môi trường và hiệu quả kinh tế và môi trường. Ngược lại, ở các nước đang phát triển, trọng tâm của nghiên cứu là liệu các công ty có công bố KTMT hay không và số lượng các thông tin này (Al-khuwiter, 2005).1 Công bố thông tin tự nguyện và bắt buộc Berthelot & cộng sự (2003) giải thích việc công bố tự nguyện hay bắt buộc cho rằng công bố thông tin tự nguyện của công ty nhằm mục đích nâng cao hình ảnh trước công chúng, đáp ứng nhu cầu thông tin cho các bên liên quan tuy nhiên thông tin công bố cần xem xét có thích đáng và đáng tin cậy; hình thức công bố cũng có sự khác biệt, mức độ ở dạng định tính, chủ yếu là thông tin tích cực. Đối với công bố thông tin bắt buộc dựa trên cơ sở quy định cụ thể của quốc gia được áp dụng đối với công ty niêm yết, các quy định này bắt buộc thông tin phải công bố, doanh nghiệp thực hiện công bố để đảm bảo tính hợp pháp và đáp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 ứng nhu cầu của người sử dụng thông tin ngày càng cao.

Chất lượng thông tin công bố và mối quan hệ với các nhân tố lợi nhuận, hiệu quả hoạt động môi trường được tiến hành dựa trên quan điểm công bố bắt buộc. Nghiên cứu này kết luận việc công bố thông tin môi trường có thể khác nhau tùy thuộc yếu tố bối cảnh như luật pháp hoặc trình độ công nghệ của quốc gia. Mobus (2005) cho rằng công bố thông tin môi trường là một áp lực để các công ty tuân thủ các quy định trong việc sử dụng định mức môi trường. Ioannou & Setafeim (2014) ước tính sự khác biệt trong công bố thông tin liên quan đến các quy định bắt buộc công bố thông tin phi tài chính về môi trường, xã hội và quản trị công ty.

Nghiên cứu tiến hành ở các công ty của bốn nước là Trung Quốc, Đan Mạch, Malaysia và Nam phi. Thông tin môi trường liên quan đến phát thải, nước, chất thải, năng lượng và các chính sách hoạt động xung quanh tác động môi trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau về mức độ công bố thông tin, ngoài quy định bắt buộc, các công ty Trung Quốc và Nam phi còn công bố thông tin theo hướng dẫn của GRI để nâng cao độ tin cậy và tính so sánh của thông tin. Jerry (2015) phân tích thực hành công bố thông tin KTMT của công ty Nigeria liệu có khác nhau khi không có hướng dẫn bắt buộc công bố.

Kết quả nghiên cứu cho rằng thiếu chuẩn mực kế toán môi trường nên các bên liên quan chỉ dựa vào thông tin mà doanh nghiệp tự nguyện công bố, thông tin này không đồng nhất giữa các công ty, các quốc gia. Vì vậy, tác giả đề nghị cần xây dựng chuẩn mực công bố thông tin về KTMT để tạo sự đồng nhất trong việc công bố.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ