Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh các nhân tố quản trị công ty ảnh hưởng đến điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trong trường hợp có phát hành thêm cổ phiếu

Chuyên đề nghiên cứu Các nhân tố quản trị ảnh hưởng đến điều chỉnh lợi nhuận ..., cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia chuyên

Trường đại học

Đại Học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

114
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về quản trị công ty

Quản trị công ty (quản trị công ty) là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh, đặc biệt là đối với các công ty niêm yết. Nó liên quan đến cách thức mà các công ty được điều hành và kiểm soát. Theo OECD, quản trị công ty bao gồm các quy tắc và quy trình thông qua đó các công ty được định hướng và kiểm soát. Mục tiêu chính của quản trị công ty là đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan, bao gồm cổ đông, ban giám đốc và các bên liên quan khác. Việc quản trị công ty hiệu quả không chỉ giúp tăng cường sự minh bạch mà còn tạo ra niềm tin cho nhà đầu tư, từ đó nâng cao giá trị công ty trên thị trường chứng khoán. Một nghiên cứu cho thấy rằng các công ty có hệ thống quản trị tốt thường có khả năng thu hút vốn đầu tư cao hơn và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh.

1.1. Khái niệm quản trị công ty

Quản trị công ty được định nghĩa là hệ thống các quy tắc, quy trình và thực tiễn mà qua đó một công ty được điều hành và kiểm soát. Điều này bao gồm mối quan hệ giữa các bên liên quan trong công ty, bao gồm cổ đông, ban giám đốc và các bên liên quan khác. Quản trị công ty không chỉ đảm bảo quyền lợi của cổ đông mà còn tạo ra một môi trường kinh doanh bền vững. Theo nghiên cứu của OECD, các nguyên tắc quản trị công ty bao gồm minh bạch, công bằng và trách nhiệm giải trình. Những nguyên tắc này giúp tăng cường sự tin tưởng của nhà đầu tư và cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty.

II. Điều chỉnh lợi nhuận trong công ty niêm yết

Điều chỉnh lợi nhuận (điều chỉnh lợi nhuận) là hành động mà các công ty thực hiện để thay đổi báo cáo tài chính nhằm đạt được các mục tiêu nhất định. Hành động này có thể bao gồm việc thay đổi các giả định kế toán hoặc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau để làm tăng hoặc giảm lợi nhuận. Theo một nghiên cứu, việc điều chỉnh lợi nhuận có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư, vì họ thường dựa vào các báo cáo tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các công ty niêm yết, nơi mà sự minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính là rất cần thiết. Việc điều chỉnh lợi nhuận có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng nếu bị phát hiện, bao gồm mất niềm tin từ nhà đầu tư và các biện pháp pháp lý.

2.1. Khái niệm điều chỉnh lợi nhuận

Điều chỉnh lợi nhuận là hành động mà các công ty thực hiện để thay đổi lợi nhuận báo cáo nhằm đạt được các mục tiêu tài chính hoặc chiến lược. Hành động này có thể bao gồm việc thay đổi các giả định kế toán hoặc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau. Theo nghiên cứu của Scott (1997), điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trong việc chọn chính sách kế toán nhằm đạt được mục tiêu tài chính. Điều này có thể dẫn đến việc nhà đầu tư có cái nhìn sai lệch về hiệu quả hoạt động của công ty.

III. Các nhân tố quản trị ảnh hưởng đến điều chỉnh lợi nhuận

Các nhân tố quản trị (nhân tố quản trị) đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến hành động điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết. Một số nhân tố chính bao gồm cấu trúc quản trị, chất lượng kiểm toán và sự tham gia của cổ đông. Cấu trúc quản trị tốt giúp giảm thiểu xung đột lợi ích giữa các bên liên quan và tạo ra một môi trường minh bạch hơn. Chất lượng kiểm toán cũng ảnh hưởng đến khả năng phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu cho thấy rằng các công ty có ban kiểm toán độc lập và chất lượng cao thường ít có khả năng thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận hơn. Sự tham gia của cổ đông cũng là một yếu tố quan trọng, vì cổ đông có thể thúc đẩy ban giám đốc thực hiện các chính sách quản trị tốt hơn.

3.1. Cấu trúc quản trị

Cấu trúc quản trị của một công ty ảnh hưởng lớn đến hành động điều chỉnh lợi nhuận. Một cấu trúc quản trị tốt giúp giảm thiểu xung đột lợi ích giữa các bên liên quan và tạo ra một môi trường minh bạch hơn. Theo nghiên cứu của Hanen BEN Ayed-KOUBAA (2010), mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị và hành động điều chỉnh lợi nhuận là rất rõ ràng. Các công ty có ban giám đốc độc lập và có sự tham gia của cổ đông thường ít có khả năng thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận hơn.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng các nhân tố quản trị có ảnh hưởng đáng kể đến hành động điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết. Để nâng cao chất lượng quản trị và giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận, các công ty cần chú trọng đến việc xây dựng một cấu trúc quản trị hiệu quả, tăng cường chất lượng kiểm toán và khuyến khích sự tham gia của cổ đông. Các khuyến nghị này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty mà còn tạo ra niềm tin cho nhà đầu tư, từ đó nâng cao giá trị công ty trên thị trường chứng khoán.

4.1. Khuyến nghị về quản trị công ty

Để nâng cao chất lượng quản trị công ty, các công ty niêm yết cần thực hiện một số biện pháp như xây dựng quy chế quản trị rõ ràng, tăng cường sự minh bạch trong báo cáo tài chính và khuyến khích sự tham gia của cổ đông. Việc thực hiện các biện pháp này sẽ giúp giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận và nâng cao niềm tin của nhà đầu tư vào công ty. Ngoài ra, các cơ quan quản lý cũng cần có các quy định chặt chẽ hơn về quản trị công ty để bảo vệ quyền lợi của cổ đông và các bên liên quan.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh các nhân tố quản trị công ty ảnh hưởng đến điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trong trường hợp có phát hành thêm cổ phiếu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của quản trị công ty đến điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trong trường hợp có phát hành thêm. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố quản trị công ty ảnh hưởng. đến điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết có phát hành thêm cỗ phiếu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu, các hàm ý từ kết quả nghiên cứu.

Téng quan tài liệu Trong nghiên cứu của Yuyang Zhang, Konari Uchida, Hua Bu (2012) với nguồn dữ liệu báo cáo tài chính tại Trung Quốc, tác giả đã thu thập và phân tích một tập hợp chứa thông tin chỉ tiết các đặc điểm quản trị công ty của 1.252 doanh nghiệp niêm yết Trung Quốc có điều chỉnh lợi nhuận trong. giai đoạn 2003-2009, và đồng thời qua phân tích, tính toán đã đưa ra được bằng chứng về sự ảnh hưởng của cấu trúc quản trị công ty đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của công ty niêm yết. Nghiên cứu của Jesus Sáenz González, Emma García, Meca (2014) cho thấy kết quả rằng môi trường doanh nghiệp tại các công ty Mỹ Latin có mức độ sở hữu của cô đông cao ảnh hưởng xấu đến chất lượng và tính minh bạch của thông tin tai chính. Quyền sở hữu nội bộ mặc dù có sự khác biệt trong hệ thống quản trị công ty nhưng nó là một cơ chế có thẻ hạn chế các hành vi điều chính lợi nhuận khi tỷ lệ sở hữu cỗ phần của cổ đông nội bộ không phải là rất cao, chỉ ở mức vừa phải.

Mặc dù có những hạn chế nhưng nghiên cứu này phân tích rõ mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu, ban giám đốc và mở rộng các hướng nghiên cứu về quản trị lợi nhuận và quản trị doanh nghiệp. Trong nghiên cứu của Hanen BEN Ayed-KOUBAA (2010) về mối quan hệ giữa quản trị công ty và quản trị lợi nhuận, tác giả đã tiến hành kiểm tra hiệu quả của cơ chế quản trị công ty đối với khả năng điều chỉnh lợi nhuận trên mẫu gồm 120 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Pháp trong giai đoạn 2002-2007, các công ty tài chính và các công ty không đủ dữ liệu bị loại khỏi mẫu. Dữ liệu có liên quan đến đặc điểm hội đồng quản trị và cơ cầu sở hữu được tự tác giả thu thập từ báo cáo hằng năm của công ty. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ ngược chiều của uỷ ban kiểm toán và tỉ lệ quyền sở hữu cổ phần đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Tuy nhiên, nghiên cứu này không cho thấy được mối liên quan giữa tính độc lập của hội đồng quản trị và kích thước của nó đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu lý thuyết về điều chỉnh lợi nhuận của PGS.TS Nguyễn Công Phương như: “Kế toán theo cơ sở dồn tích và hành. vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp” (2009), “Các mô hình quản trị lợi nhuận ở các nước phát triển có phù hợp với bối cảnh Việt Nam: phân tích lý thuyết" (2005) đã cung cấp cơ sở lý thuyết hữu ích cho các nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của nhà quản trị sau này. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những ưu, nhược điểm của từng mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận để cải tiến phương pháp nhận diện điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị Bài viết “Hành vi quản trị lợi nhuận đối với thông tin lợi nhuận công bố trên báo cáo tài chính” của TS.

Đường Nguyễn Hưng (2013) đã làm rõ bản chất của hành vỉ quản trị lợi nhuận, cơ sở và mục đích của hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị. Tuy nhiên, bài viết này chỉ giới hạn nghiên cứu ở mức lý thuyết chứ chưa đưa ra bằng chứng thực tế về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị. Bên cạnh đó cũng đã có một số nghiên cứu như: Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Vân (2012) về đề tài “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cỗ phần trong năm đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Với thời gian nghiên cứu từ năm 2008-2010, tác giả sử dụng mô hình DeAnglo và Eriedlan đã đưa ra kết luận phần lớn các công ty niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Tuy nghiên mô hình nghiên cứu của tác giả còn có hạn chế là đã giả định quy mô doanh nghiệp không thay đổi qua hai năm và năm liền trước không có điều chỉnh lợi nhuận. Nếu vi phạm giả thuyết thì kết quả nghiên cứu không còn chính xác nữa. Cũng giống đề tài “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cô phần trong năm đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Huỳnh Thị Vân (2012) và kế thừa những hạn chế nghiên cứu trên, nghiên cứu của tác gia Phan Thi Thuy Duong (2015) vé tài “Sử dụng mô hình Jones để nhận diện điều chỉnh lợi nhuận: Trường hợp các công ty niêm yết ở Hose phát hành thêm cô phiếu năm 2013” da van dung mô hình Modified Jones được coi là mô hình ưu việt hiện nay để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của. các công ty niêm yết.

Với mẫu nghiên cứu cuối cùng gồm 24 công ty có phát hành thêm cô phiếu trong năm 2013, tác giả đã đưa ra kết luận phần lớn các công ty niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận. Ngoài ra, với nghiên cứu này, tác giả lựa chọn kỳ nghiên cứu là quý đã khắc phục được nhược điểm của các. nghiên cứu trước. Vì theo tác giả, quý này có thể điều chỉnh lợi nhuận tăng.

lên để phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản trị và đương nhiên lợi nhuận của những quý sau sẽ giảm xuống và ngược lại, nhưng xét toàn bộ cả năm thì không thấy hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Oanh (2015) về đề tài “Các nhân tố quản trị công ty ảnh hưởng đến sai phạm báo cáo tài chính”. Với thời gian nghiên cứu là năm 2011 đến năm 2013, tác giả đã có những đánh giá khách quan về tình hình quản trị công ty của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam thời gian qua, và đồng thời chỉ ra được sự ảnh hưởng của từng nhân tố quản trị công ty đến sai phạm báo cáo tài chính. Có thé thấy, đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công.

ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các quốc gia khác trên thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam đến nay vẫn là một quốc gia ít được nghiên cứu trong các công trình quản trị công ty và các nghiên cứu trong nước về các nhân tổ quản trị công ty ảnh hưởng đến hành vi điều chinh lợi nhuận của các công ty niêm. yết có phát hành thêm cỗ phiếu còn rất hạn chế CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ANH HUONG CUA QUAN TRI CONG TY DEN DIEU CHINH LOI NHUAN CUA CAC CONG TY NIEM YET TRONG TRUONG HOP CO PHAT HANH THEM CO PHIEU 1. KHÁI QUÁT CHUNG VE QUAN TRI CONG TY (CORPORATE GOVERNANCE) 1.

Khái niệm quản trị công ty Quản trị công ty (Corporate governance) là thuật ngữ thường được đề cập đến trong hoạt động quản trị doanh nghiệp ở nước ta thời gian gần đây. Ngày cảng có nhiều công ty cỗ phần quan tâm đến khái niệm này, một phản, do đòi hỏi của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, phẩn khác, do đòi hỏi của chính các cỗ đông và các bên liên quan khác của doanh nghiệp. Mặc dù pháp luật doanh nghiệp nước ta đã có những quy định điều chỉnh việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp, trong đó rất nhiều điều khoản ràng buộc doanh nghiệp phải hoạt động công khai, minh bạch, tuân thủ pháp luật, đối xử công bằng giữa các cổ đông, đảm bảo quyền lợi cỗ đông. nhưng trong thực tiễn vận hành, vẫn còn rất nhiều vấn đề phát sinh mà luật pháp không thể điều chinh hết.

Đó là lý do nhiều cỗ đông, nhất là các cổ đông nhỏ trong các công ty cổ phần, cùng với một số bên liên quan khác thường gây áp lực, buộc công ty phải xây dựng quy chế quản trị công ty riêng. Quy chế quản trị công ty thường được xây dựng trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời bổ sung thêm những quy định riêng cho phù hợp với đặc thù doanh nghiệp và mong muốn của cô đông cùng các bên liên quan. Không có một định nghĩa duy nhất về quản trị công ty (corporate govemanee) có thể áp dụng cho mọi trường hợp và mọi thê chế. Những định nghĩa khác nhau về quản trị công ty hiện hữu phần nhiều phụ thuộc vào các tác giả, thể chế cũng như quốc gia hay truyền thống pháp lý.

Theo Quyết định số 12/QĐ-BTC ban hành ngày 13 tháng 3 năm 2007 thì định nghĩa của cụm từ “quản trị công ty” trong quy chế quản trị công ty như sau: “Quản trị công. ty” là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty. Các nguyên tắc quản trị công ty dựa trên 6 nguyên tắc sau: ~ Đảm bảo một cơ cầu quản trị hiệu quả; ~ Đảm bảo quyền lợi của cổ đông; ~ Đối xử công bằng giữa các cỗ đông; ~ Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty; ~ Minh bạch trong hoạt động của công ty; ~ Hội đồng quản trị, ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả Nam 1999, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã xuất bản tài liệu “Các nguyên tắc quản trị céng ty” (OECD Principles of Corporate Governance), trong đó đưa ra một định nghĩa chỉ tiết hơn về quản trị công ty, đây cũng là định nghĩa được sử dụng chính thức cho nghiên cứu này: Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mỗi quan hệ giữa ban giám đốc, hội đồng quản trị và các cổ đông của một công ty với các bên có quyên lợi liên quan. Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như đề giám sát kết quả hoạt động của công ty.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Các nhân tố quản trị ảnh hưởng đến điều chỉnh lợi nhuận của công ty niêm yết khi phát hành thêm cổ phiếu" khám phá những yếu tố quản trị quan trọng có thể tác động đến quyết định điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trong bối cảnh phát hành thêm cổ phiếu. Tác giả phân tích cách mà các yếu tố như cấu trúc sở hữu, chính sách chi trả cổ tức, và hiệu quả hoạt động có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa quản trị và lợi nhuận mà còn giúp các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp hiểu rõ hơn về các chiến lược tài chính hiệu quả.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Tác động của quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động các công ty sản xuất niêm yết tại Việt Nam", nơi phân tích sâu hơn về vai trò của quản trị trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động. Ngoài ra, bài viết "Ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh. Cuối cùng, bài viết "Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến chính sách chi trả cổ tức tiền mặt của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" sẽ cung cấp thêm thông tin về cách mà cấu trúc sở hữu có thể tác động đến các quyết định tài chính của doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị và hiệu quả kinh doanh.