CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số nghiên cứu có liên quan trên thế giới Qua việc tổng quan những nghiên cứu trước, tác giả nhận thấy rằng trên thế giới đã có những nhà khoa học từng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng và từ đó tác động đến việc sử dụng: Venkatesh et al., Im et al, Alleyne and Lavine, … Những nhà nghiên cứu này chủ yếu theo trường phái định lượng. Trong đó các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng và từ đó tác động đến sử dụng gồm có: Hiệu quả mong đợi, nỗ lực mong đợi, ảnh hưởng xã hội, thái độ đối với việc sử dụng, những điều kiện thuận lợi, nội lực của bản thân, động lực hưởng thụ,…Sau đây, tác giả sẽ phân tích theo từng nhân tố đã được khám phá: 1. Nhân tố “Hiệu quả mong đợi” Nhân tố “Hiệu quả mong đợi” được các nghiên cứu trước nhận định là có mối tương quan dương với ý định sử dụng hệ thống ERP (Venkatesh et al., 2003; Alleyne and Lavine, 2013; Chauhan and Jaiswal, 2016; Costa et al., 2016; Venkatesh et al.,2012; Keong et al., 2012; Im et al.) cụ thể như sau: Brown et al đã nghiên cứu về sự chấp nhận công nghệ của người dùng trong môi trường sử dụng bắt buộc thì đã đưa ra kết luận là cảm nhận tính hữu ích là một chỉ báo không quan trọng đến ý định sử dụng, tuy nhiên nhận thức tính hữu ích lại là một nhân tố quan trọng về thái độ, giải thích 55% sự khác biệt về thái độ của người dùng đối với công nghệ (Brown et al.
Venkatesh et al đã tổng hợp được có năm khái niệm từ các mô hình khác nhau liên quan đến hiệu quả mong đợi, đó là cảm nhận tính hữu ích, động lực bên ngoài, công việc phù hợp, các lợi ích liên quan và kỳ vọng kết quả. Kết quả nghiên cứu ông đã phát hiện ra rằng “hiệu quả mong đợi” tác động thuận chiều đến ý định sử dụng, nam giới và nhóm người trẻ tuổi thì có tác động mạnh mẽ hơn nữ giới và nhóm người lớn tuổi (Venkatesh et al. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Nghiên cứu của Amoako- Gyampah and Salam đưa ra kết luận đó là không có mối quan hệ giữa cảm nhận tính hữu ích của công nghệ đến ý định sử dụng công nghệ (Amoako-Gyampah and Salam, 2004). Tuy nhiên trong nghiên cứu khác của Amoako-Gyampah lại có kết quả ngược lại, nhà nghiên cứu đã nêu lên giả thuyết: Trong môi trường triển khai ERP, cảm nhận tính hữu ích của công nghệ sẽ có tác động trực tiếp thuận chiều lên ý định sử dụng công nghệ.
Và phát hiện của Amoako-Gyampah qua bài nghiên cứu đã ủng hộ giả thuyết đưa ra (Amoako- Gyampah, 2007). Nghiên cứu của Hwang có kết luận rằng: Cảm nhận tính hữu ích có ý nghĩa quan trọng trong việc ảnh hưởng đến ý định sử dụng (Hwang, 2005). Nghiên cứu của Shih đã thu được kết quả là: Sự hữu ích có mối tương quan dương đến thái độ và sử dụng (Shih, 2006). Nghiên cứu Gumussoy, Calisir and Bayram đã kết luận rằng: Cảm nhận tính hữu ích là yếu tố quyết định đến ý định hành vi để sử dụng hệ thống, ngoài ra cảm nhận sự hữu ích ảnh hưởng đến thái độ đối với việc sử dụng hệ thống (Gumussoy, Calisir and Bayram, 2007).
Nghiên cứu của Kwahk and Lee đã tìm thấy mối tương quan như sau: Sự sẵn sàng thay đổi ảnh hưởng gián tiếp đến ý định sử dụng ERP thông qua nhân tố cảm nhận tính hữu ích. Điều này cũng có nghĩa là nhân tố cảm nhận tính hữu ích tác động trực tiếp đến ý định sử dụng ERP (Kwahk and Lee, 2008). Garača đã chỉ ra rằng cảm nhận tính hữu ích của hệ thống ERP có đóng góp đáng kể đến sự hài lòng đối với hệ thống ERP và gián tiếp ảnh hưởng đến ý định sử dụng ERP (Garača, 2011). Hai tác giả Alleyne and Lavine trong nghiên cứu của mình đã đưa ra giả thuyết rằng hiệu quả mong đợi càng cao thì sẽ càng tác động đến ý định sử dụng hệ thống ERP (Alleyne and Lavine, 2013).
Nhà nghiên cứu đã lập luận như sau: Theo Venkatesh et al đã định nghĩa “hiệu quả mong đợi” là mức độ mà một cá nhân tin LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 rằng việc sử dụng hệ thống sẽ giúp họ đạt được lợi ích về công việc (Venkatesh et al., 2003) và dựa vào các nghiên cứu trước hai tác giả đã đúc kết được việc nhận thức về tính hiệu quả càng cao thì làm tăng ý định sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hiệu quả mong đợi là nhân tố dự báo quan trọng về ý định hành vi sử dụng hệ thống ERP (Alleyne and Lavine, 2013). Cảm nhận tính hữu ích tương quan dương đến việc triển khai ERP thành công, điều này được đề cập trong nghiên cứu của Hou, Chen and Shang (Hou, Chen and Shang, 2016). Các nghiên cứu khác cũng cho thấy kết quả tương tự là hiệu qủa mong đợi tác động cùng chiều đến ý định sử dụng ERP (Chauhan and Jaiswal, 2016; Costa et al., 2016; Venkatesh, Thong and Xu, 2012; Keong et al., 2012; Im, Hong and Kang, 2011; Kwahk and Ahn, 2010).
Nhân tố “ Nỗ lực mong đợi” Tác giả Venkatesh đã tổng hợp được ba khái niệm tương đồng với nỗ lực mong đợi, đó là: Cảm nhận dễ sử dụng, mức độ phức tạp và dễ sử dụng. Tác giả dự đoán ảnh hưởng của nỗ lực mong đợi đến ý định sử dụng sẽ mạnh mẽ hơn đối với phụ nữ trẻ tuổi và ít kinh nghiệm. Kết quả có sự khác biệt so với dự đoán ban đầu, đó là “nỗ lực mong đợi” tác động đến ý định sử dụng bị ảnh hưởng mạnh hơn đối với nữ giới, ít kinh nghiệm nhưng là người lớn tuổi (Venkatesh et al. Nghiên cứu của Hwang có kết luận rằng: Cảm nhận dễ sử dụng không có ảnh hưởng đáng kể đến cảm nhận sự hữu ích nhưng lại có mối tương quan dương đến ý định sử dụng (Hwang, 2005).
Trong khi đó, tác giả Shih đã nghiên cứu và đưa ra kết quả: Dễ sử dụng tác động trực tiếp và thuận chiều đến sự hữu ích và đến thái độ (Shih, 2006). Amoako-Gyampah đã nêu lên giả thuyết: Cảm nhận về tính dễ sử dụng của công nghệ sẽ có tác động trực tiếp thuận chiều lên ý định sử dụng công nghệ. Và giả thuyết đã được kiểm nghiệm là đúng (Amoako-Gyampah, 2007). Nghiên cứu của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Gumussoy et al.
đã đưa ra kết quả là cảm nhận dễ sử dụng đã ảnh hưởng đến cảm nhận tính hữu ích (Gumussoy et al. Nghiên cứu của Kwahk and Lee đã cung cấp rằng sự sẵn sàng thay đổi ảnh hưởng gián tiếp đến ý định sử dụng ERP thông qua nhân tố cảm nhận dễ sử dụng, điều này cũng có nghĩa là nhân tố cảm nhận dễ sử dụng tác động trực tiếp đến ý định sử dụng ERP (Kwahk and Lee, 2008). Kết quả nghiên cứu của Garača đã chỉ ra rằng cảm nhận dễ sử dụng hệ thống ERP có đóng góp đáng kể đến sự hài lòng đối với hệ thống ERP và gián tiếp ảnh hưởng đến ý định sử dụng ERP (Garača, 2011). Kết quả nghiên cứu của các tác giả Venkatesh et al.
(2012); Keong et al. (2012); Im, Hong and Kang (2011) cũng cung cấp bằng chứng cho thấy nỗ lực mong đợi có mối tương quan dương với ý định sử dụng ERP. Hai nhà nghiên cứu Alleyne and Lavine nêu ra rằng Venkatesh et al đã xác định “nỗ lực mong đợi” là mức độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không còn quá nỗ lực (Venkatesh et al., 2003) và dựa theo các nghiên cứu trước đây đã thấy nhân tố nỗ lực mong đợi ảnh hưởng đáng kể đến hành vi sử dụng công nghệ của người dùng trong môi trường kế toán, từ đó Alleyne and Lavine dự đoán nỗ lực mong đợi càng cao thì sẽ càng tác động đến ý định sử dụng hệ thống ERP và kết quả nghiên cứu đã giống như dự đoán (Alleyne and Lavine, 2013). Tác giả Chauhan and Jaiswal đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nỗ lực mong đợi và ý định sử dụng ERP thì thấy nỗ lực mong đợi có mối tương quan dương đến ý định sử dụng ERP (Chauhan and Jaiswal, 2016).
Costa et al đã đưa ra kết luận trong bài nghiên cứu của họ, đó là cảm nhận dễ sử dụng sẽ tác động đến ý định sử dụng (Costa et al.Kết quả nghiên cứu của Hou, Chen and Shang đã phát hiện ra rằng: Cảm nhận dễ sử dụng có mối tương quan dương đến cả cảm nhận tính hữu ích và việc triển khai ERP thành công (Hou, Chen and Shang, 2016). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhân tố “Ảnh hưởng xã hội” Nhân tố ảnh hưởng xã hội đã được các nghiên cứu trước tìm thấy là có mối tương quan dương với ý định sử dụng ERP (Venkatesh et al., 2003; Alleyne and Lavine, 2013; Chang et al., 2008; Venkatesh, Thong and Xu, 2012; Keong et al., 2012; Im, Hong and Kang, 2011). Ngược lại với các tác giả này thì nghiên cứu của Chauhan and Jaiswal (2016) đã xác nhận rằng không có ảnh hưởng đáng kể của ảnh hưởng xã hội đến ý định sử dụng ERP.
Các nhà nghiên cứu Brown et al đã đưa ra kết luận chuẩn chủ quan ảnh hưởng đáng kể đến ý định sử dụng ERP (Brown et al. Venkatesh đã tổng hợp được ba khái niệm tương đồng với ảnh hưởng xã hội: Chuẩn chủ quan, các yếu tố xã hội và hình ảnh. Ông dự đoán tác động của ảnh hưởng xã hội lên ý định sử dụng sẽ được điều tiết theo giới tính, tuổi tác, sự tự nguyện và kinh nghiệm, và ảnh hưởng sẽ mạnh hơn đối với phụ nữ lớn tuổi, đặc biệt là trong môi trường bắt buộc và giai đoạn đầu của trải nghiệm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự tác động này mạnh mẽ hơn cho nữ giới lớn tuổi, trong môi trường sử dụng công nghệ bắt buộc và những người ít kinh nghiệm (Venkatesh et al., 2003) Nghiên cứu Gumussoy et al đã kết luận rằng chuẩn chủ quan là yếu tố quyết định đến ý định sử dụng hệ thống (Gumussoy et al.
Nhóm tác giả Chang et al đưa ra giả thuyết rằng các yếu tố xã hội có mối tương quan dương đến sử dụng hệ thống ERP, và nhà nghiên cứu đã lập luận cho giả thuyết như sau: Khái niệm về các yếu tố xã hội không chỉ bao gồm cam kết của nhà quản lý cấp cao mà còn cả sự mong đợi và áp lực từ các bên và đồng nghiệp mà người dùng ERP tương tác.