chương 1 tác giả đã khái quát lên được mục tiêu của nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm xe cơ giới của khách hàng tại Công ty Bảo Việt Cà Mau, từ đó đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm khuyến khích khách hàng tham gia bảo hiểm xe cơ giới tại Công ty Bảo Việt Cà Mau. Để thực hiện những mục tiêu đó, phương pháp phân tích cũng được đề xuất bao gồm: nghiên cứu định tính (phỏng vấn chuyên gia) và nghiên cứu định lượng (kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá, hồi quy tuyến tính) được thực hiện. 5 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về bảo hiểm xe cơ giới 2.1 Khái niệm chung về bảo hiểm 2.1 Lịch sử ngành bảo hiểm Lịch sử phát triển của ngành bảo hiểm bắt nguồn từ việc giảm thiểu rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng hải. Người ta phát hiện ra hợp đồng bảo hiểm đầu tiên vào ngày 22/04/1329 tại Floren, Genoa, Italia.
Tiếp theo sau đó, có nhiều rủi ro xảy ra ở nhiều sự vật, sự việc, cho nên bảo hiểm dần xuất hiện ở nhiều khía cạnh của cuộc sống. Năm 1666 xuất hiện bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên trên thế giới tại Luân Đôn, Anh. Hiện nay, bảo hiểm phát triển mạnh mẽ, để đáp ứng nhu cầu của con người ngày càng phát triển những bảo hiểm đúng với yêu cầu của người mua. Thể hiện thông qua các bảo hiểm bảo vệ các bộ phận trên cơ thể như: Taylor Swift mua bảo hiểm bảo vệ đôi chân trị giá 40 triệu USD; Bruce Springsteen mua bảo hiểm dây thanh quản để bảo vệ giọng hát trị giá 6 triệu USD; America Ferrrera mua bảo hiểm nụ cười với giá trị 10 triệu USD;.
Điều này cho thấy, bảo hiểm phát triển đến mức nếu có nhu cầu bảo hiểm bất cứ sự vật, sự việc, bộ phận cơ thể,… nào cũng có thể mua bảo hiểm.2 Khái niệm bảo hiểm Nói đến bảo hiểm không ai không biết về bảo hiểm, nhưng để định nghĩa về bảo hiểm thì rất hạn chế về khái niệm của bảo hiểm. Thực tế, tồn tại một số khái niệm về bảo hiểm như sau: theo Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ, bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được hưởng bảo hiểm. Bên cạnh đó, theo Luật kinh doanh Bảo hiểm của Việt Nam (2010), kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Như vậy, có thể hiểu cơ bản là bảo hiểm là một sản phẩm được người mua mua nhằm giảm thiểu rủi ro về giá trị kinh tế của con người hoặc sự vật cụ thể.2 Các loại hình bảo hiểm Bảo hiểm là dịch vụ ngày càng phát triển do chất lượng cuộc sống được nâng cao, nên nhu cầu của con người ngày càng cao.
Theo Luật kinh doanh Bảo hiểm Việt Nam (2010) thì bảo hiểm được phân chia thành các loại như sau: 6 2.1 Phân loại bảo hiểm theo nghiệp vụ bảo hiểm Căn cứ vào nghiệp vụ thực hiện của bảo hiểm, bảo hiểm được chia thành 3 loại cụ thể, bao gồm: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe. Bảo hiểm nhân thọ: là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi theo thời gian và đối tượng, thường gắn liền với tuổi thọ của con người. Các loại bảo hiểm nhân thọ thường thấy như: bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm liên kết đầu tư, bảo hiểm hưu trí. Bảo hiểm phi nhân thọ: là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất ổn định theo thời gian và thường độc lập với tuổi thọ con người.
Các loại bảo hiểm phi nhân thọ như: bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không; bảo hiểm hàng không; bảo hiểm xe cơ giới; bảo hiểm cháy, nổ; bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; bảo hiểm trách nhiệm; bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; bảo hiểm nông nghiệp. Bảo hiểm sức khỏe: là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật, tai nạn, ốm đau, bệnh tật hoặc chăm sóc sức khỏe được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Các loại bảo hiểm sức khỏe như: bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ.2 Phân loại bảo hiểm theo tính chất bắt buộc của bảo hiểm Phân loại bảo hiểm theo tính chất bắt buộc của bảo hiểm bao gồm: bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm không bắt buộc. Bảo hiểm bắt buộc: là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện.
Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng đối với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội. Các loại bảo hiểm bắt buộc như: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; bảo hiểm cháy, nổ. Bảo hiểm không bắt buộc: là những loại bảo hiểm mà hợp đồng được kết lập dựa hoàn toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của người được bảo hiểm. Đây là tính chất vốn có của bảo hiểm thương mại khi nó có vai trò như là một hoạt động dịch vụ cho sản xuất và sinh hoạt con người.
Bảo hiểm không bắt buộc rất đa dạng.3 Phân loại bảo hiểm theo đối tượng bảo hiểm Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm thì toàn bộ các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành ba nhóm: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và bảo hiểm trách nhiệm dân sự. 7 Bảo hiểm tài sản: là loại bảo hiểm lấy tài sản làm đối tượng bảo hiểm. Khi xảy ra rủi ro tổn thất về tài sản như mất mát, hủy hoại về vật chất, người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế và mức độ đảm bảo thuận tiện hợp đồng. Các loại bảo hiểm tài sản như: bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không; bảo hiểm hàng không; bảo hiểm xe cơ giới; bảo hiểm cháy, nổ;.
Bảo hiểm con người: đối tượng của các loại hình này, chính là tính mạng, thân thể, sức khỏe của con người. Người ký kết hợp đồng bảo hiểm, nộp phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn nếu như rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng tính mạng, sức khỏe của người được bảo hiểm thì họ hoặc một người thụ hưởng hợp pháp khác sẽ nhận được khoản tiền do người bảo hiểm trả. Bảo hiểm con người có thể là bảo hiểm nhân thọ hoặc bảo hiểm tai nạn - bệnh tật. Các loại bảo hiểm con người như: bảo hiểm tai nạn con người; bảo hiểm y tế; bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm trọn đời; bảo hiểm sinh kỳ; bảo hiểm tử kỳ;.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm phát sinh do ràng buộc của các quy định trong luật dân sự, theo đó, người được bảo hiểm phải bồi thường bằng tiền cho người thứ 3 những thiệt hại gây ra do hành vi của mình hoặc do sự vận hành của tài sản thuộc sở hữu của chính mình. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự có thể là bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hoặc bảo hiểm trách nhiệm công cộng. Các loại bảo hiểm trách nhiệm dân sự như: bảo hiểm xe cơ giới; bảo hiểm cháy, nổ; bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; bảo hiểm trách nhiệm;.3 Khái niệm bảo hiểm xe cơ giới Theo Nghị định 103/2008/NĐ-CP của Chính phủ, xe cơ giới bao gồm các loại như: ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy công nghiệp, lâm nghiệp, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô hoặc máy kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự có tham gia giao thông. Có 2 loại hình bảo hiểm xe cơ giới cụ thể, bao gồm: bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện.
Bảo hiểm bắt buộc là loại bảo hiểm về trách nhiệm dân sự của chủ sở hữu xe cơ giới đối với người thứ ba (về người và tài sản). Bảo hiểm tự nguyện bao gồm các loại như sau: bảo hiểm tự trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (Bao gồm bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và đối với hành khách trên xe); bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hàng hóa trên xe; bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe và lái, phụ xe; bảo hiểm vật chất xe ô tô.4 Nội dung cơ bản của bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe cơ giới Các nội dung cơ bản của bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe cơ giới được thực hiện theo quy tắc bảo hiểm ô tô của Thông tư 126/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính. Các nội dung cơ bản như sau: 2.1 Đối tượng bảo hiểm Chủ xe cơ giới tham gia giao thông trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phải tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định tại Thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Chủ xe cơ giới không được đồng thời tham gia hai hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự trở lên cho cùng một xe cơ giới.