Chương 1 : Giới thiệu đề tài nghiên cứu 4 Chương 2 : Tổng quan nghiên cứu Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu Chương 4 : Kết quả và thảo luận kết quả nghiên cứu Chương 5 : Kết luận và khuyến nghị 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Nghiên cứu về khả năng thanh toán và các nhân tố ảnh hưởng 2. Nghiên cứu về khả năng thanh toán Khả năng thanh toán của DN bao gồm tất cả các tài sản mà DN có KNTT theo giá trị thực tại thời điểm nghiên cứu. Thông số KNTT còn được gọi là thông số chuyển hóa tiền mặt bởi vì nó đo lường khả năng của DN trong việc sử dụng các tài sản chuyển hóa thành tiền để thanh toán các nghĩa vụ tài chính trong khoảng thời gian ngắn, quy thành một chu kỳ kinh doanh thường diễn ra trong khoảng một năm, theo đó ý nghĩa tổng quan của thông số này là biểu hiện khả năng có thể hoàn trả các khoản nợ đến hạn bằng phương thức đưa ra các quy mô phạm vi tài sản có thể sử dụng để thực hiện chi trả các khoản nợ trong thời gian phù hợp của một DN.
Theo Nguyễn Minh Kiều (2010), định nghĩa KNTT là khả năng đáp ứng các chi tiêu cố định trong dài hạn và có đủ lượng tiền mặt cần thiết để mở rộng và phát triển. Theo Lưu Thị Hương (2005) cũng định nghĩa KNTT là khả năng của một tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền. Quản lý các khoản cần phải thanh toán của DN là bao gồm quản lý các khoản khách hàng cần phải thanh toán cho DN và các khoản DN cần phải thanh toán cho khách hàng. Nói cách khác, để phân tích một cách cụ thể hơn về KNTT của DN là tiến hành nghiên cứu chi tiết các khoản phải thu, các khoản phải trả sẽ ảnh hưởng tới KNTT của DN như thế nào.
Khi tình trạng chiếm dụng vốn của nhà cung cấp hoặc khách hàng thấp, KNTT dồi dào là thấy được hoạt động quản lý tài chính của công ty đó tốt. Khi hoạt động tài chính kém dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn của đối tác nhiều, các khoản phải thu, nợ phải trả sẽ trì trệ kéo dài. Khi đó cần xác định số vốn chiếm dụng và bị chiếm dụng là bao nhiêu để thấy được KNTT thực sự của DN. 6 KNTT có thể xem là một thước đo để đánh giá sự sống còn của một DN, một DN có KNTT bằng tiền mặt tốt luôn là một DN có khả năng phát triển tốt.
KNTT của DN là một nội dung thiết yếu của hoạt động tài chính, nhằm đưa thông tin cho các cấp quản lý từ đó thực hiện các quyết định phù hợp cho sự phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của một DN. Các quyết định cho DN vay bao nhiêu tiền, thời gian bao nhiêu, có nên bán hàng chịu cho DN hay không. Tất cả các thông tin đó đều dựa vàoTừ việc phân tích và nghiên cứu về KNTT của DN sẽ giúp cho chủ DN đưa ra các quyết định như cho DN này vay bao nhiêu, thời gian bao lâu, có nên bán chịu cho DN kia hay không. KNTT của DN là việc điều tiết, cân bằng giữa nhu cầu thanh toán cho các khoản công nợ phải trả và tăng cường hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí.
Nếu lượng tiền mặt lớn và hàng tồn kho lớn thể hiện KNTT của DN cao thì thấy được hiệu quả sử dụng vốn thấp. Nếu lượng tiền mặt quá ít và hàng tồn kho nhỏ trong thời gian dài thể hiện KNTT của DN thấp thì nguy cơ giải thể và phá sản của DN đó rất cao. Căn cứ vào luật phá sản ở các nước theo cơ chế thị trường trên thế giới, một công ty không đủ khả năng trả nợ có thể bị buộc phá sản, một DN thiếu khả năng chi trả các khoản nợ (khả năng chi trả bằng tiền mặt) cũng có thể bị tuyên bố phá sản ngay cả khi nó có đủ khả năng để trả nợ. Tại Việt Nam luật phá sản cũng có quy định tương đồng.
Do vậy, các khoản nợ đến hạn phải trả và chuẩn bị nguồn để thực hiện chi trả các khoản nợ đó luôn là mối quan tâm của các DN. Tuy nhiên, cần dự trữ tiền mặt ở mức nào để vừa đảm bảo việc thực hiện chi trả các khoản nợ, vừa tránh lãng phí các nguồn lực cũng là một vấn đề cần được nghiên cứu. Nghiên cứu về do lường khả năng thanh toán Việc lựa chọn sử dụng thước đo nào đối với KNTT là rất quan trọng. Theo nghiên cứu của Lyroudi và Bolek (2012) trong các DN của Ba Lan có 4 thước đo KNTT bao gồm KNTT ngắn hạn (CR); KNTT nhanh (QR) và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC), nắm giữ tiền mặt (C) được sử dụng.
Ngoài ra, để đo lường KNTT nên sử dụng các thước đo: KNTT nhanh (QR), KNTT ngắn hạn (CR), vốn ngắn hạn ròng (NWC) và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) có trong nghiên cứu của Spaulding. 7 - Khả năng thanh toán ngắn hạn (Current ratio): Mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn với các khoản nợ ngắn hạn là thể hiện KNTT ngắn hạn. Chỉ tiêu này cho thấy khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn của DN ở mức thấp hay cao. Những khoản nợ mà một công ty phải thực hiện chi trả trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh là nợ ngắn hạn.
Công thức như sau: Hệ số thanh toán nợ ngắn Tài sản ngắn hạn [2.1 = hạn Tổng nợ ngắn hạn ] Nếu trị số của chỉ tiêu này ≥ 1, cho thấy các khoản nợ ngắn của DN có đủ KNTT và tình hình tài chính là tốt hoặc khả quan. Còn nếu “Hệ số KNTT nợ ngắn hạn” < 1, các khoản nợ ngắn hạn của công ty không đảm bảo thanh toán. Trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1, KNTT nợ ngắn hạn của công ty càng thấp. Tuy nhiên, khi xem xét chỉ tiêu “KNTT ngắn hạn”, các nhà phân tích cũng cần lưu ý rằng: cho dù trị số của chỉ tiêu này bằng 1, nếu không thực sự cần thiết (áp lực phá sản), không một DN nào lại bán toàn bộ tài sản ngắn hạn hiện có để thanh toán toàn bộ nợ ngắn hạn cả.
Vì như vậy, hoạt động kinh doanh của DN sẽ bị gián đoạn, khó khăn sẽ chồng chất. Trên thực tế, khi trị số của chỉ tiêu này ≥ 2, DN mới hoàn toàn đảm bảo KNTT nợ ngắn hạn và các chủ nợ mới có thể yên tâm thu hồi được hoản nợ của mình khi đáo hạn. - Khả năng thanh toán nhanh (Quick ratio): KNTT nhanh cho biết: với giá trị còn lại của tài sản ngắn hạn (sau khi đã loại trừ giá trị hàng tồn kho là bộ phận có khả năng chuyển đổi thành tiền chậm nhất trong toàn bộ tài sản ngắn hạn), DN có đủ khả năng trang trải toàn bộ nợ ngắn hạn hay không. Chỉ tiêu này được tính như sau: Giá trị tài sản ngắn hạn - Giá trị hàng tồn Khả năng thanh toán [2.2 = kho nhanh ] Giá trị nợ ngắn hạn Trên lý thuyết, khi trị số của chỉ tiêu “KNTT nhanh” ≥ 1, DN bảo đảm và thừa KNTT nhanh và ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu < 1, DN không bảo đảm 8 KNTT nhanh.
Tuy nhiên, cũng như chỉ tiêu “KNTT ngắn hạn”, khi phân tích chỉ tiêu “KNTT nhanh” các nhà phân tích cũng cần lưu ý rằng: cho dù chỉ tiêu này bằng 1, nếu không do áp lực phá sản hay một lý do nào đó thì hiếm có DN nào lại bán toàn bộ TSNH hiện có (trừ hàng tồn kho) để thanh toán toàn bộ nợ ngắn hạn; bởi vì như vậy sẽ ảnh hưởng chung đến các hoạt động khác của DN. Mặt khác, không phải tài sản nào trong số tài sản ngắn hạn của DN cũng có thể bán được (chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ…). Tương tự như chỉ tiêu “KNTT ngắn hạn” thì khi trị số của chỉ tiêu “KNTT nhanh” ≥ 2, DN mới hoàn toàn đảm bảo KNTT nhanh nợ ngắn hạn. - Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (Cash conversion cycle - CCC): Chu kỳ chuyển đổi tiền mặtphản ánh khoảng thời gian ròng kể từ khi chi thực tế bằng tiền cho đến khi thu được tiền.
Theo Bùi Anh Tuấn và Nguyễn Hoàng Nam (2013), cho rằng: “Khi nguyên vật liệu đã được mua, thời gian quay vòng hàng lưu kho thể hiện số ngày trung bình để sản xuất và bán ra sản phẩm. Thời gian thu tiền trung bình thể hiện số ngày trung bình cần thiết để thu được tiền bán hàng trả chậm. Thời gian trả tiền trung bình thể hiện số ngày trung bình kể từ khi DN mua hàng trả chậm cho đến khi thanh toán khoản phải trả người bán. Chu kỳ kinh doanh được đo bằng tổng số ngày kể từ khi mua nguyên vật liệu cho đến khi thu được tiền về.
Thời gian luân Chu kỳ kinh Thời gian thu = chuyển hàng tồn + [2.3] doanh nợ trung bình kho Thông thường do mua nguyên vật liệu thường không phải trả tiền ngay nên cần xem xét khoảng thời gian nợ người bán của DN. Và thời gian quay vòng của tiền là sự chênh lệch giữa chu kỳ kinh doanh và thời gian trả nợ trung bình. Công thức: Thời gian vòng Thời gian trả = Chu kỳ kinh doanh + [2.4] quay của tiền nợ trung bình 9 Khi thời gian quay vòng tiền tăng lên (lớn) thì khả năng thanh khoản của DN thấp đi và ngược lại. Các bước để xác định vòng quay tiền ˗ Thời gian thu nợ trung bình (ACP- Average Collection Period): Là khoảng thời gian được tính theo ngày trung bình kể từ khi khách hàng nhận nợ cho đến khi khách hàng trả nợ DN.
Thời gian thu nợ trung 365 [2. = bình Hệ số thu nợ 5] ˗ Hệ số thu nợ (hay vòng quay các khoản phải thu): Doanh thu thuần [2. Hệ số thu nợ = Nợ phải thu 6] Khi phân tích chỉ số này bên cạch việc so sánh giữa các năm, so sánh với các DN cùng ngành và so sánh với tỷ số trung bình ngành, những khoản nợ đã quá hạn của DN cần được kiểm tra phát hiện và đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời. ˗ Hệ số lưu kho hay Vòng quay hàng tồn kho: Giá vốn hàng bán [2.7 Hệ số lưu kho = Nợ phải thu ] Hệ số lưu kho cho biết một năm hàng lưu kho được quay vòng bao nhiêu lần.
Khi DN quản lý hàng tồn kho có hiệu quả thì hệ số lưu kho cao, tránh được ứ đọng vốn và ngược lại. Bên cạnh đó hệ số này còn phải được so sánh với hệ số trung bình ngành.