Tổng quan về luận án

Trong kỷ nguyên công nghiệp hóa hiện đại, biến đổi khí hậu và suy thoái hệ sinh thái đã đưa phát triển bền vững trở thành ưu tiên chiến lược của toàn cầu. Phát triển bền vững được định nghĩa kinh điển là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (Keeble, 1988, tr. viii). Đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, mâu thuẫn giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng trở nên gay gắt. Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016, tr. 28), “Ô nhiễm đất do chất thải từ các hoạt động công nghiệp, xây dựng, sinh hoạt thể hiện rõ nhất ở các vùng ven các đô thị lớn hoặc các vùng tập trung các hoạt động sản xuất công nghiệp, khai khoáng”, với lượng xả thải bình quân mỗi ngày tại các khu, cụm công nghiệp lên tới 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải nguy hại. Đặc biệt, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – khu vực động lực đóng góp 60% ngân sách quốc gia, thu hút hơn 50% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đạt tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp bình quân 10,23%/năm (Bùi Ngọc Hiền, 2017; Nguyễn Chí Hải và Huỳnh Ngọc Chương, 2018) – đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm không khí và nguồn nước vượt quy chuẩn từ 4 đến 5 lần (Huỳnh Đức Thiện và Trần Hán Biên, 2012).

Để giải quyết bài toán cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và trách nhiệm sinh thái, Kế toán quản trị môi trường (Environmental Management Accounting - EMA) nổi lên như một công cụ quản trị chiến lược đột phá. Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC, 2005, tr. 19), KTQTMT là hệ thống "quản lý hiệu quả môi trường và kinh tế thông qua việc thực hiện các hệ thống kế toán liên quan đến môi trường". Tuy nhiên, việc áp dụng KTQTMT tại các nước đang phát triển còn hết sức sơ khai và phân mảnh (Herzig và cộng sự, 2012). Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ khảo lược lý thuyết hoặc tiếp cận đơn ngành như gạch men, thép, chế biến dầu khí (Phạm Thị Bích Chi và cộng sự, 2016; Nguyễn Thị Nga, 2016; Hoàng Thị Bích Ngọc, 2017). Tồn tại một khoảng trống nghiên cứu sâu sắc về mô hình tổng thể đánh giá các nhân tố đa tầng tác động đến hành vi thực hiện KTQTMT trên diện rộng.

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán (Mã số: 9340301) của tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Ngọc Toàn và TS. Trần Anh Hoa tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH, 2019), mang tên: "Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện Kế toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam – Nghiên cứu cho các tỉnh thành khu vực phía Nam", đã giải quyết trực diện khoảng trống khoa học này. Luận án đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu trọng tâm:

  1. Những nhân tố nào thuộc bối cảnh thể chế và bối cảnh tổ chức ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến việc thực hiện KTQTMT tại các doanh nghiệp sản xuất phía Nam?
  2. Mức độ tác động cụ thể của từng nhân tố và cơ chế truyền dẫn qua các biến trung gian diễn ra như thế nào?

Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa Lý thuyết Thể chế (Institutional Theory - DiMaggio & Powell, 1983) và Lý thuyết Ngẫu nhiên (Contingency Theory - Chenhall, 2003). Hệ thống 10 giả thuyết nghiên cứu được thiết lập chặt chẽ bao gồm 6 giả thuyết tác động trực tiếp ($H_1$ đến $H_6$) và 4 giả thuyết tác động gián tiếp ($H_7$ đến $H_{10}$) thông qua các biến trung gian:

  • $H_1$: Áp lực cưỡng ép (Coercive Pressure - ALCE) tác động cùng chiều đến thực hiện KTQTMT.
  • $H_2$: Áp lực quy chuẩn (Normative Pressure - ALQC) tác động cùng chiều đến thực hiện KTQTMT.
  • $H_3$: Áp lực mô phỏng (Mimetic Pressure - ALMP) tác động cùng chiều đến thực hiện KTQTMT.
  • $H_4$: Nhận thức về sự biến động của môi trường kinh doanh (Business Environmental Uncertainty - BEU) tác động cùng chiều đến thực hiện KTQTMT.
  • $H_5$: Chiến lược môi trường (Environmental Strategy - CLMT) tác động cùng chiều đến thực hiện KTQTMT.
  • $H_6$: Sự phức tạp của nhiệm vụ (Task Complexity) tác động cùng chiều đến thực hiện KTQTMT.
  • $H_7$: ALCE tác động gián tiếp đến thực hiện KTQTMT qua vai trò trung gian của ALQC.
  • $H_8$: ALQC tác động gián tiếp đến thực hiện KTQTMT qua vai trò trung gian của ALMP.
  • $H_9$: Sự biến động của môi trường kinh doanh tác động gián tiếp đến thực hiện KTQTMT qua vai trò trung gian của ALMP.
  • $H_{10}$: Sự biến động của môi trường kinh doanh tác động gián tiếp đến thực hiện KTQTMT qua vai trò trung gian của Chiến lược môi trường.

Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi các doanh nghiệp sản xuất tại các địa bàn công nghiệp trọng điểm phía Nam (TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An,...) trong giai đoạn từ tháng 12/2014 đến tháng 04/2018, mang lại đóng góp mang tính tiên phong cả về mặt lý luận và thực tiễn cho hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam.

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn quốc tế và trong nước về KTQTMT phản ánh hai dòng nghiên cứu chính:

  1. Dòng nghiên cứu chuẩn tắc và hướng dẫn kỹ thuật: Tập trung vào việc định hình khung khái niệm, nhận diện chi phí và kỹ thuật hạch toán thông tin môi trường vật chất và tiền tệ. Tiêu biểu là các hướng dẫn của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (USEPA, 1995), Ủy ban Phát triển Bền vững Liên Hợp Quốc (UNDSD, 2001), và Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC, 2005). Các công cụ chuyên sâu như Kế toán chi phí dòng nguyên vật liệu (Material Flow Cost Accounting - MFCA), Kế toán chi phí vòng đời (Life Cycle Costing - LCC), và Phân bổ chi phí trên cơ sở hoạt động (Activity-Based Costing - ABC) đã được chuẩn hóa bởi Schaltegger và Burritt (2002, 2017) cùng Bộ Môi trường CHLB Đức (FEM, 2003). Tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu chuẩn tắc bao gồm Nguyễn Chí Quang (2003), Trần Thị Hồng Mai (2012), Võ Văn Nhị và Nguyễn Thị Đức Loan (2013), Huỳnh Đức Lộng (2015, 2016).

  2. Dòng nghiên cứu thực nghiệm và các yếu tố quyết định: Khảo sát mức độ ứng dụng và các tiền tố thúc đẩy KTQTMT trong tổ chức. Điển hình là các công trình của Bartolomeo và cộng sự (2000) khảo sát 84 doanh nghiệp tại 4 quốc gia châu Âu (Đức, Ý, Hà Lan, Anh); Kokubu và cộng sự (2003), Kokubu và Nashioka (2006, 2008) tại Nhật Bản; Ferreira và cộng sự (2010), Christ và Burritt (2013) tại Úc; Ambe (2007) tại Nam Phi; Alkisher (2013) tại Libya; Jamil và cộng sự (2015) tại Malaysia.

Điểm nổi bật trong bức tranh y văn là tồn tại nhiều mâu thuẫn học thuật gay gắt chưa có lời giải đáp thống nhất:

  • Về Áp lực cưỡng ép (ALCE): Trong khi Kokubu và Nashioka (2006) tại Nhật Bản, Ambe (2007) và Alkisher (2013) khẳng định sự cưỡng chế pháp lý là động lực tối thượng, thì Jalaludin và cộng sự (2011) khi nghiên cứu các trường đại học tại Úc lại kết luận ALCE không tạo ra tác động có ý nghĩa thống kê.
  • Về Áp lực quy chuẩn (ALQC) và Mô phỏng (ALMP): Chang (2007) và Jamil và cộng sự (2015) cho thấy các chuẩn mực nghề nghiệp và hành vi bắt chước không thúc đẩy KTQTMT tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối lập hoàn toàn với phát hiện của Qian (2007) và Alkisher (2013).
  • Về Biến động môi trường kinh doanh và Sự phức tạp nhiệm vụ: Chenhall (2003) xem biến động môi trường là nhân tố ngẫu nhiên cốt lõi, nhưng Osborn (2005) và Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016) không tìm thấy mối liên hệ thực nghiệm. Tương tự, Keit (2011) và Kotzee (2014) cho rằng sự phức tạp của nhiệm vụ cản trở kế toán môi trường, ngược lại với luận điểm công nghệ phức tạp đòi hỏi nhiều thông tin quản trị hơn của Qian (2007).

Luận án của Nguyễn Thị Hằng Nga đã định vị chính xác vị thế học thuật bằng cách bắc cầu liên kết hai bối cảnh thể chế và tổ chức, vượt qua các hạn chế của những nghiên cứu đơn lẻ mang tính phân tích hồi quy tuyến tính cổ điển (OLS) bằng cách áp dụng mô hình phương trình cấu trúc (Structural Equation Modeling - SEM) để kiểm định đồng thời các tác động trực tiếp và mạng lưới tác động gián tiếp đa chiều.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mang lại bước tiến quan trọng trong việc mở rộng và tích hợp hai nền tảng lý thuyết lớn trong khoa học quản trị:

  1. Lý thuyết Thể chế (DiMaggio & Powell, 1983; Scott, 1995): Luận án chứng minh rằng hành vi áp dụng KTQTMT không đơn thuần là sự đáp ứng thụ động trước chế tài pháp lý mà là kết quả của một quá trình đồng hóa thể chế (Institutional Isomorphism) phức hợp, trong đó áp lực cưỡng ép tạo tiền đề kích hoạt chuẩn mực nghề nghiệp, từ đó lan tỏa thành áp lực mô phỏng giữa các doanh nghiệp cùng ngành.
  2. Lý thuyết Ngẫu nhiên (Chenhall, 2003; Lawrence & Lorsch, 1986; Thompson, 1967): Nghiên cứu làm sáng tỏ rằng hệ thống KTQTMT là một cấu trúc thích ứng có điều kiện. Khi doanh nghiệp đối mặt với sự biến động bất định từ thị trường và tính chất công nghệ chế tạo phức tạp, nhu cầu xử lý thông tin phi tài chính gia tăng đột biến, thúc đẩy doanh nghiệp thiết kế hệ thống kế toán chi phí môi trường tương thích.
  3. Cơ chế chuyển giao liên lý thuyết (Inter-theoretical Interface): Đóng góp lý thuyết đột phá nhất của luận án là thiết lập mắt xích liên kết giữa bối cảnh tổ chức (Lý thuyết Ngẫu nhiên) và bối cảnh thể chế (Lý thuyết Thể chế). Cụ thể, nhận thức của nhà quản trị về sự biến động của môi trường kinh doanh không chỉ tác động trực tiếp đến KTQTMT mà còn tác động gián tiếp thông qua việc kích thích doanh nghiệp chủ động tìm kiếm các mô hình chuẩn mực từ đối thủ cạnh tranh (Áp lực mô phỏng) và chủ động tái định vị Chiến lược môi trường.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp toàn diện 4 nhóm lý thuyết: Lý thuyết Thể chế, Lý thuyết Ngẫu nhiên, Lý thuyết Các bên liên quan (Freeman, 1984) và Lý thuyết Hợp pháp (Suchman, 1995; Brown & Deegan, 1998). Mô hình nghiên cứu cấu trúc phân định rõ ràng các ranh giới điều kiện (Boundary conditions):

  • Thực hiện KTQTMT: Đo lường thông qua mức độ thu thập, xử lý, phân tích thông tin chi phí môi trường bằng tiền tệ (Monetary EMA - MEMA) và vật chất (Physical EMA - PEMA), cùng mức độ lập báo cáo phục vụ kiểm soát nội bộ.
  • Nhóm biến thể chế: Gồm Áp lực cưỡng ép (thanh tra, xử phạt, quy định khí thải), Áp lực quy chuẩn (chuẩn mực ISO 14001, hướng dẫn của hiệp hội nghề nghiệp kế toán), Áp lực mô phỏng (sức ép từ các doanh nghiệp dẫn đầu ngành).
  • Nhóm biến tổ chức: Gồm Sự biến động môi trường kinh doanh (tính khó đoán của thị trường và chính sách), Chiến lược môi trường (chủ động ngăn ngừa ô nhiễm thay vì kiểm soát cuối đường ống), và Sự phức tạp của nhiệm vụ (độ phức tạp của quy trình công nghệ và dòng nguyên liệu).

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án áp dụng thế giới quan thực chứng (Positivism) kết hợp với hậu thực chứng (Post-positivism), sử dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp tuần tự (Sequential Mixed Methods Research Design) gồm hai giai đoạn độc lập nhưng bổ trợ chặt chẽ:

  1. Nghiên cứu định tính thăm dò: Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc sâu với các chuyên gia đầu ngành (bao gồm nhà quản lý doanh nghiệp, kế toán trưởng, thanh tra môi trường và học giả chuyên ngành kế toán) nhằm điều chỉnh, bổ sung các thang đo quốc tế cho phù hợp với đặc thù thể chế kinh tế Việt Nam.
  2. Nghiên cứu định lượng chính thức: Sử dụng kỹ thuật khảo sát diện rộng bằng bảng câu hỏi cấu trúc, kiểm định mô hình đo lường và mô hình cấu trúc tuyến tính thông qua phần mềm SPSS và AMOS.

Quy trình nghiên cứu và kiểm soát chất lượng

  • Chiến lược chọn mẫu: Mẫu khảo sát được lựa chọn theo phương pháp thuận tiện có phân tầng theo ngành nghề và địa bàn tại các tỉnh, thành phố thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu,...). Tiêu chí chọn mẫu xác định rõ đối tượng trả lời phiếu là Kế toán trưởng, Kế toán tổng hợp hoặc Giám đốc/Phó Giám đốc phụ trách sản xuất/môi trường - những người nắm giữ thông tin chuẩn xác nhất về hệ thống kế toán và hoạt động sinh thái của doanh nghiệp.
  • Kiểm định thang đo: Tất cả các khái niệm nghiên cứu đều được đo lường bằng thang đo khoảng Likert 5 điểm. Quy trình phân tích dữ liệu trải qua các bước kiểm định độ tin cậy nhất quán nội tại bằng hệ số Cronbach’s Alpha (yêu cầu $\alpha \ge 0,70$; hệ số tương quan biến - tổng $\ge 0,30$), phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA với phép trích Principal Axis Factoring và phép xoay Promax/Varimax), tiếp nối bởi phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor Analysis - CFA) nhằm thẩm định giá trị hội tụ (Convergent Validity: $CR \ge 0,70; AVE \ge 0,50$), giá trị phân biệt (Discriminant Validity) và độ phù hợp tổng thể của mô hình ($Chi-square/df \le 3; CFI, TLI \ge 0,90; RMSEA \le 0,08$).

Phân tích định lượng và Robustness Checks

Luận án áp dụng kỹ thuật Mô hình hóa phương trình cấu trúc (SEM) để kiểm định đồng thời các mối quan hệ tác động trực tiếp và gián tiếp. Độ vững (Robustness) của mô hình được kiểm định nghiêm ngặt bằng kỹ thuật tái chọn mẫu Bootstrap với số lượng mẫu lặp lại $N = 500$. Độ chệch (Bias) của các ước lượng tham số đạt mức rất nhỏ (tiệm cận 0) với mức ý nghĩa thống kê $p < 0,05$, khẳng định mô hình lý thuyết đạt độ tin cậy vững chắc. Phân tích phương sai một yếu tố (One-Way ANOVA) và kiểm định tính đồng nhất của phương sai (Levene Test) được thực hiện để đánh giá sự khác biệt trong thực hiện KTQTMT theo các đặc trưng nhân khẩu học doanh nghiệp: ngành nghề sản xuất, quy mô tổng tài sản, và hình thức sở hữu.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Kết quả phân tích định lượng SEM trên tập dữ liệu chính thức đã mang lại những phát hiện thực nghiệm có giá trị cao:

  1. Xác nhận vai trò chi phối của bối cảnh thể chế: Cả ba áp lực thể chế gồm Áp lực cưỡng ép (ALCE), Áp lực quy chuẩn (ALQC), và Áp lực mô phỏng (ALMP) đều có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê ($p < 0,001$) đến việc thực hiện KTQTMT. Trong đó, ALCE thể hiện trọng số chuẩn hóa tác động mạnh nhất, chứng minh rằng sự kiểm soát nghiêm ngặt của cơ quan quản lý môi trường và các chế tài xử phạt là động lực tiên quyết buộc doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam phải tổ chức thu thập dữ liệu chi phí môi trường.
  2. Khẳng định tính tương thích của bối cảnh tổ chức: Chiến lược môi trường (CLMT), Nhận thức về sự biến động của môi trường kinh doanh (BEU), và Sự phức tạp của nhiệm vụ đều tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến thực hiện KTQTMT. Doanh nghiệp theo đuổi chiến lược môi trường chủ động (Proactive Environmental Strategy) có mức độ thực hành KTQTMT vượt trội so với doanh nghiệp bị động.
  3. Phát hiện nghịch đảo đầy bất ngờ về "Sự phức tạp của nhiệm vụ": Trái ngược với các nghiên cứu trước đây tại các nước phát triển như Keit (2011), Dikgwatlhe (2013) và Kotzee (2014) - vốn cho rằng quy trình phức tạp gây trở ngại cho việc áp dụng kế toán môi trường - luận án chứng minh tại Việt Nam, sự phức tạp của nhiệm vụ sản xuất lại thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu thực hiện KTQTMT. Khi quy trình công nghệ càng đa dạng và dòng nguyên vật liệu qua nhiều công đoạn phân tách, nhà quản trị càng có nhu cầu cấp thiết sử dụng các công cụ như MFCA và ABC để bóc tách các chi phí môi trường ẩn nằm lẫn trong chi phí sản xuất chung.
  4. Xác nhận 4 cơ chế tác động gián tiếp (Mediation Pathways): Kiểm định SEM xác nhận sự tồn tại vững chắc của các hiệu ứng trung gian:
    • ALCE tác động lan tỏa qua ALQC đến KTQTMT.
    • ALQC kích hoạt ALMP thúc đẩy KTQTMT.
    • Sự biến động của môi trường kinh doanh thúc đẩy hành vi mô phỏng (ALMP) và định hình Chiến lược môi trường (CLMT), từ đó gián tiếp nâng cao mức độ thực hiện KTQTMT.
  5. Sự phân hóa hành vi theo đặc tính doanh nghiệp (ANOVA): Kết quả phân tích ANOVA cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ thực hiện KTQTMT giữa các nhóm hình thức sở hữu (các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và công ty cổ phần niêm yết thực hiện KTQTMT cao hơn đáng kể so với các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ) và giữa các ngành nghề có độ nhạy cảm môi trường cao (hóa chất, dệt may, thuộc da, chế biến cao su) so với các ngành lắp ráp cơ khí thông thường.

Implications đa chiều

  • Hàm ý phát triển lý thuyết: Kết hợp thành công Lý thuyết Thể chế và Lý thuyết Ngẫu nhiên thành một mô hình giải thích thống nhất, mở rộng biên độ lý thuyết kế toán quản trị trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển có thể chế chuyển đổi.
  • Hàm ý phương pháp luận: Cung cấp một bộ thang đo chuẩn hóa đã được kiểm định giá trị hội tụ, phân biệt và độ tin cậy thông qua CFA/SEM, tạo tiền đề phương pháp luận chuẩn xác cho các nghiên cứu tiếp theo về kế toán bền vững tại khu vực Đông Nam Á.
  • Hàm ý thực tiễn cho doanh nghiệp:
    • Doanh nghiệp sản xuất cần chuyển đổi nhận thức: chi phí bảo vệ môi trường không phải là "gánh nặng tiêu hao lợi nhuận" mà là "khoản đầu tư chiến lược sinh lời", giúp giảm thiểu thất thoát nguyên nhiên vật liệu đầu vào và tối ưu hóa chuỗi giá trị.
    • Tích hợp hệ thống thông tin kế toán môi trường vật chất (PEMA - đo lường dòng năng lượng, nước, phế thải) với hệ thống thông tin kế toán tiền tệ (MEMA - chi phí xử lý chất thải, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, chi phí khấu hao thiết bị lọc khí) ngay trong hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP).
    • Áp dụng kỹ thuật Hạch toán chi phí dòng vật liệu (MFCA theo tiêu chuẩn ISO 14051) nhằm minh bạch hóa chi phí dòng sản phẩm dương (chất thải hữu ích) và sản phẩm âm (chất thải phát sinh).
  • Hàm ý chính sách cho cơ quan quản lý nhà nước:
    • Bộ Tài chính: Cần sớm nghiên cứu ban hành Thông tư hướng dẫn riêng về hạch toán Kế toán môi trường và Kế toán quản trị môi trường cho các doanh nghiệp sản xuất, thiết lập tài khoản chi tiết theo dõi chi phí môi trường trong Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp.
    • Bộ Tài nguyên và Môi trường: Tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật môi trường, xây dựng cơ sở dữ liệu công khai về mức độ xả thải của doanh nghiệp để tạo áp lực quy chuẩn xã hội; đồng thời thiết kế các gói ưu đãi tín dụng xanh và miễn giảm thuế đối với các doanh nghiệp áp dụng hệ thống kế toán quản trị môi trường đạt chuẩn.
    • Các Hiệp hội nghề nghiệp (VAA, VACPA, VCCI): Tổ chức các chương trình đào tạo chứng chỉ chuyên sâu về KTQTMT, chuyển giao các bộ công cụ thực hành mẫu cho các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn thừa nhận các giới hạn nghiên cứu khoa học cần được khắc phục trong tương lai:

  1. Giới hạn không gian địa lý: Nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi các doanh nghiệp sản xuất tại các tỉnh thành thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Mặc dù đây là khu vực đại diện kinh tế lớn nhất cả nước, tính khái quát hóa cho toàn bộ các vùng kinh tế khác (như Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc hay Miền Trung) vẫn cần được kiểm chứng thêm.
  2. Giới hạn về loại hình doanh nghiệp: Luận án chỉ tập trung vào khối doanh nghiệp sản xuất, chưa khảo sát khối doanh nghiệp thương mại - dịch vụ (du lịch, logistics, bệnh viện, khách sạn) - những ngành cũng đang chịu áp lực chuyển đổi xanh sâu sắc.
  3. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang (Cross-sectional Design): Dữ liệu thu thập tại một thời điểm duy nhất trong giai đoạn 2014-2018 chưa phản ánh được tiến trình biến động động thái (Dynamic evolution) của hệ thống kế toán theo sự thay đổi của chính sách pháp luật theo thời gian.
  4. Thiên lệch tự đánh giá (Self-reported Bias): Phương pháp khảo sát bằng bảng câu hỏi gửi đến nhà quản trị có thể tiềm ẩn sai số chủ quan do xu hướng trả lời theo chuẩn mực mong đợi của xã hội (Social Desirability Bias).

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  • Mở rộng quy mô và so sánh quốc tế: Thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu (Comparative Study) giữa Việt Nam và các quốc gia trong khối ASEAN (như Thái Lan, Malaysia, Indonesia) để phân tích tác động của các thể chế kinh tế - chính trị khác nhau.
  • Thiết kế nghiên cứu theo chiều dọc (Longitudinal Research): Thu thập dữ liệu bảng (Panel Data) qua nhiều năm để theo dõi sự thay đổi trong hành vi áp dụng KTQTMT trước và sau khi ban hành các luật môi trường mới.
  • Tích hợp các lý thuyết hành vi hiện đại: Vận dụng Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) hoặc Lý thuyết Năng lực động (Dynamic Capabilities Theory) để phân tích sâu hơn về phẩm chất cá nhân của CEO/CFO đối với sự đổi mới kế toán.
  • Mở rộng sang Hạch toán phát thải Carbon (Carbon Accounting): Nghiên cứu phương pháp tích hợp đo lường dấu chân carbon (Carbon Footprint) và chi phí tín chỉ carbon vào hệ thống KTQTMT trong bối cảnh thực hiện cam kết Net Zero 2050.

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Luận án là một trong những công trình tiên phong tại Việt Nam áp dụng mô hình cấu trúc SEM để phân tích KTQTMT một cách có hệ thống. Công trình mở ra tiền đề cho hàng loạt luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và các bài báo khoa học xuất bản trên các tạp chí chuyên ngành uy tín trong nước và quốc tế thuộc danh mục Scopus/ISI.
  • Tác động chuyển đổi công nghiệp: Đóng vai trò là cẩm nang dẫn đường cho các hiệp hội ngành nghề chế biến, dệt may, hóa chất, bao bì trong việc tái cấu trúc hệ thống quản trị chi phí, nhận diện hàng tỷ đồng chi phí lãng phí nguyên vật liệu bị "chôn vùi" trong các khoản chi phí sản xuất chung.
  • Tác động chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng sắc bén cho các cơ quan hoạch định chính sách của Chính phủ, Bộ Tài chính và Bộ TN&MT trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ Môi trường và hoàn thiện Chiến lược Tăng trưởng Xanh Quốc gia giai đoạn 2021-2030.
  • Lợi ích xã hội và môi trường: Gián tiếp thúc đẩy việc cắt giảm hàng ngàn tấn chất thải công nghiệp độc hại xả ra lưu vực sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng dân cư đô thị.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới học giả: Tiếp cận một khung lý thuyết tích hợp chuẩn mực, bộ công cụ thang đo đã được kiểm định độ tin cậy khắt khe và phương pháp xử lý dữ liệu định lượng tiên tiến để kế thừa cho các công trình nghiên cứu tiếp nối.
  • Ban Giám đốc, Kế toán trưởng và Giám đốc Tài chính (CFO): Nắm bắt phương pháp khoa học để nhận diện chính xác các dòng chi phí môi trường, phân bổ giá thành sản phẩm chuẩn xác, từ đó ra quyết định đầu tư công nghệ xanh mang lại hiệu quả hoàn vốn cao.
  • Các Nhà hoạch định chính sách: Có được bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về việc các công cụ kinh tế và chế tài pháp lý tác động cụ thể như thế nào đến hành vi của doanh nghiệp, giúp thiết kế chính sách môi trường trúng đích và hiệu quả.
  • Tổ chức tài chính và Nhà đầu tư: Sử dụng các chỉ số KTQTMT như một tiêu chí cốt lõi trong thẩm định tín dụng xanh và đánh giá rủi ro quản trị môi trường (ESG) của các dự án công nghiệp.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đó là việc tích hợp thành công Lý thuyết Thể chế (Institutional Theory) và Lý thuyết Ngẫu nhiên (Contingency Theory) thành một mô hình nhân quả đa tầng, khám phá mối liên hệ tương tác xuyên bối cảnh: sự biến động của môi trường kinh doanh (yếu tố ngẫu nhiên nội tại) kích hoạt áp lực mô phỏng và định hình chiến lược môi trường (yếu tố thể chế), từ đó quyết định mức độ thực hiện KTQTMT.

  2. Đổi mới phương pháp luận của luận án so với các nghiên cứu trước đây? Khác với các nghiên cứu trước tại Việt Nam chủ yếu dùng hồi quy OLS đơn tuyến hoặc chỉ dừng lại ở phân tích khám phá EFA (như Phạm Thị Bích Chi và cộng sự, 2016; Nguyễn Thị Nga, 2016), luận án áp dụng quy trình nghiên cứu hỗn hợp tuần tự kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia với kỹ thuật SEM trên AMOS và kiểm định lặp mẫu Bootstrap $N=500$, cho phép đo lường đồng thời sai số đo lường và các hiệu ứng tác động trung gian gián tiếp phức tạp.

  3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất trong nghiên cứu? Phát hiện về tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê của "Sự phức tạp của nhiệm vụ" đối với việc thực hiện KTQTMT. Trong khi y văn thế giới tại các nước phát triển (Keit, 2011; Kotzee, 2014) cho rằng tính phức tạp gây cản trở áp dụng, thì tại các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam, quy trình công nghệ càng phức tạp lại càng là động lực kích thích doanh nghiệp áp dụng KTQTMT để kiểm soát thất thoát chi phí ẩn.

  4. Luận án có cung cấp quy trình nhân rộng (Replication Protocol) không? Có. Luận án cung cấp chi tiết toàn bộ bảng câu hỏi khảo sát chuẩn hóa với hệ thống thang đo Likert 5 điểm cho từng biến quan sát, quy trình mã hóa dữ liệu, các tiêu chí đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha, ma trận xoay nhân tố EFA/CFA và cú pháp phân tích SEM, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập dễ dàng tái lập và kiểm chứng trên các tập dữ liệu mới.

  5. Chương trình nghiên cứu 10 năm được phác thảo như thế nào? Chương trình nghiên cứu thập kỷ tới tập trung vào: (1) Mở rộng KTQTMT sang Kế toán phát thải Carbon (Carbon Accounting) và Kế toán chi phí đa dạng sinh học; (2) Tích hợp Trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet vạn vật (IoT) trong việc tự động hóa thu thập dữ liệu dòng vật liệu PEMA theo thời gian thực; (3) Nghiên cứu cơ chế tác động của KTQTMT đến việc nâng cao điểm số xếp hạng ESG và giá trị vốn hóa của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga là một công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc và chuẩn mực về Kế toán quản trị môi trường tại Việt Nam. Tựu trung lại, công trình đạt được 6 đóng góp cốt lõi:

  1. Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và bức tranh y văn quốc tế về KTQTMT và các mô hình tiền tố quyết định hành vi kế toán môi trường.
  2. Xây dựng và kiểm định thành công mô hình tích hợp giữa Lý thuyết Thể chế và Lý thuyết Ngẫu nhiên, giải quyết thỏa đáng các mâu thuẫn học thuật tồn tại trong y văn quốc tế.
  3. Xác lập bộ thang đo chuẩn hóa đo lường các nhân tố thể chế, tổ chức và mức độ thực hiện KTQTMT tương thích với ngữ cảnh kinh tế chuyển đổi tại Việt Nam.
  4. Minh chứng bằng thực nghiệm khoa học vai trò chi phối của Áp lực cưỡng ép, Chiến lược môi trường và phát hiện mới về tác động tích cực của Sự phức tạp của nhiệm vụ.
  5. Làm sáng tỏ mạng lưới tác động gián tiếp thông qua các biến trung gian (ALQC, ALMP, CLMT) trong việc truyền dẫn động lực thực hiện KTQTMT.
  6. Đề xuất hệ thống giải pháp và hàm ý chính sách mang tính khả thi cao, mở ra bước chuyển biến mới cho việc chuẩn hóa hệ thống kế toán doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững và tăng trưởng xanh.