Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp “Hiện trạng quản lý tài nguyên sinh học tại Vườn quốc gia Bến En, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2014” do sinh viên Nguyễn Thị Tâm thực hiện năm 2015 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (chuyên ngành Địa chính môi trường, Khoa Quản lí Tài nguyên), dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Minh Cảnh.

Vườn quốc gia (VQG) Bến En là khu bảo tồn thiên nhiên có tính đa dạng sinh học cao của khu vực Bắc Trung Bộ, đặc trưng bởi hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên núi đất đai thấp và vùng hồ ngập nước Sông Mực. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên sinh học tại đây chịu áp lực nặng nề từ các hoạt động dân sinh, khai thác lâm sản trái phép, săn bắt động vật hoang dã và nguy cơ xâm lấn đất rừng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả thực hiện đề tài nhằm đánh giá thực trạng nguồn tài nguyên và hiệu quả của công tác quản lý, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn phù hợp.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu hiện trạng nguồn tài nguyên sinh học tại VQG Bến En.
  2. Tìm hiểu tác động của con người đến tài nguyên sinh học tại VQG.
  3. Đánh giá thực trạng công tác quản lý tài nguyên tại VQG.

Nhiệm vụ nghiên cứu (yêu cầu):

  1. Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực VQG Bến En.
  2. Điều tra hiện trạng tài nguyên sinh học (thực vật, động vật) tại VQG Bến En.
  3. Đánh giá nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học tại VQG.
  4. Điều tra thực trạng công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh học tại VQG Bến En.
  5. Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bến En.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng quản lý và nguồn tài nguyên sinh học tại VQG Bến En.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ ranh giới tự nhiên của VQG Bến En với tổng diện tích 14.734,67 ha (gồm 18 tiểu khu) nằm trên địa giới hành chính của 2 huyện Như Thanh và Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cùng 13 xã và 2 thị trấn thuộc khu vực vùng lõi và vùng đệm.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập, phân tích số liệu thứ cấp và dữ liệu thực tế đến năm 2014; khảo sát sơ cấp bổ sung hoàn thành vào đầu năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu thực nghiệm kết hợp điều tra, khảo sát thực địa và phân tích chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên.

Khung lý thuyết và văn bản pháp lý:

  • Khái niệm nền tảng: Đa dạng sinh học theo định nghĩa của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF, 1989) và Công ước Đa dạng sinh học (CBD, 1992); bảo tồn tại chỗ (in-situ), bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ), bảo tồn dựa vào cộng đồng và mô hình đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên (Pirot, 2005).
  • Các điều ước quốc tế: Công ước Đa dạng sinh học (Việt Nam tham gia năm 1994), Công ước Ramsar về các vùng đất ngập nước (tham gia năm 1988), Công ước CITES về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (thành viên năm 1994).
  • Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (1991, sửa đổi 2004), Luật Đất đai (1993, sửa đổi 1998, 2003), Luật Bảo vệ Môi trường (1993, 2005), Luật Thủy sản (2003), Luật Đa dạng sinh học (2008); Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ IUCN (2012).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa tài liệu từ Ban quản lý VQG Bến En, Hạt Kiểm lâm VQG, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Như Thanh, Phòng Kế hoạch và Đầu tư huyện, các báo cáo điều tra quy hoạch của Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng Bắc Trung Bộ và các đề án nghiên cứu chuyên ngành.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
    • Khảo sát thực địa: Quan sát, chụp ảnh mô tả cấu trúc tầng tán rừng, thu thập mẫu tiêu bản thực vật; quan sát trực tiếp chim, động vật ban ngày, kết hợp nhận diện tiếng hót, dấu phân và phỏng vấn người dân bản địa thông thạo địa bàn.
    • Điều tra bằng phiếu hỏi: Thực hiện 10 phiếu phỏng vấn tại 9 thôn nằm trong vùng lõi (thuộc các xã Tân Bình, Xuân Quỳ, Hóa Quỳ; mỗi thôn chọn ngẫu nhiên các hộ gia đình). Điều tra 30 phiếu tại 5 xã vùng đệm đại diện (Xuân Khang, Xuân Thái, thị trấn Bến Sung, Hải Long, Hải Vân; mỗi xã điều tra 6 phiếu) về tình hình kinh tế - xã hội, mức độ khai thác lâm sản và săn bắt động vật hoang dã.
    • Phỏng vấn mở và phương pháp chuyên gia: Tiếp xúc, trao đổi với cán bộ quản lý, cán bộ Phòng Khoa học và Hợp tác Quốc tế VQG Bến En, lãnh đạo UBND cấp xã và lực lượng kiểm lâm địa bàn.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh số liệu qua bảng biểu.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Đặt vấn đề

Trình bày tính cấp thiết của công tác bảo tồn đa dạng sinh học trong bối cảnh suy thoái tài nguyên toàn cầu và tại Việt Nam. Khái quát đặc điểm tài nguyên VQG Bến En với diện tích mặt hồ Sông Mực, hệ thực vật đặc trưng có quần thể Lim xanh nghìn năm tuổi và các loài động thực vật quý hiếm. Xác định mục tiêu, yêu cầu, phạm vi và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài.

Phần II: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa các định nghĩa về đa dạng sinh học, bảo tồn nội vi, bảo tồn ngoại vi, quản lý dựa vào cộng đồng và đồng quản lý. Phân tích bối cảnh suy thoái đa dạng sinh học toàn cầu (thống kê IUCN ghi nhận 17.291 loài bị đe dọa) và hiện trạng ĐDSH tại Việt Nam. Tổng quan các văn bản pháp luật, chiến lược bảo tồn trong nước cùng những áp lực thường trực từ cộng đồng dân cư sinh sống ở vùng lõi, vùng đệm và tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) của hoạt động du lịch sinh thái.

Phần III: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng, địa bàn nghiên cứu tại VQG Bến En. Thiết kế quy trình điều tra, kỹ thuật lấy mẫu thực địa và phương thức chọn mẫu phỏng vấn xã hội học đối với 40 hộ dân (10 hộ vùng lõi, 30 hộ thuộc 5 xã vùng đệm) cùng cán bộ chuyên trách tại địa phương.

Phần IV: Kết quả nghiên cứu

Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội

VQG Bến En có diện tích 14.734,67 ha, địa hình chuyển tiếp giữa đồi núi và vùng hồ (điểm cao nhất đạt 497 m, độ dốc trung bình 20 - 25°). Khí hậu có nhiệt độ trung bình năm 23,3 °C, lượng mưa trung bình 1.790 mm (mùa mưa chiếm 90% lượng nước). Thủy văn trung tâm là hồ Sông Mực (dung tích 250 - 400 triệu m³ nước, diện tích mặt nước trung bình 2.333 ha) tiếp nhận nước từ 4 phụ lưu: suối Hận (16 km), suối Thổ (20 km), suối Cốc (11 km) và suối Tây Toọn (15 km). Trong vùng có 13 xã và 2 thị trấn với quy mô dân số lớn; đặc biệt trong vùng lõi còn 9 thôn thuộc 3 xã (Tân Bình, Xuân Quỳ, Hóa Quỳ) với 440 hộ và hơn 1.800 nhân khẩu sinh sống xen kẽ.

Hiện trạng tài nguyên thực vật và động vật

Tổng diện tích đất lâm nghiệp của VQG là 12.033 ha, trong đó đất có rừng đạt 11.738,14 ha (chiếm tỷ lệ che phủ 97,5%), phân bố theo các trạng thái:

Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp Mã Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Rừng giàu IIIA3 162,42 1,38
Rừng trung bình IIIA2 2.079,82 17,70
Rừng nghèo IIIA1 3.514,01 30,00
Rừng phục hồi (có và chưa có trữ lượng) IIA, IIB 1.855,44 15,80
Rừng hỗn giao gỗ và tre nứa G-N 2.094,35 17,80
Rừng tre nứa N 1.755,80 15,00
Rừng trồng RT 276,30 2,40
Đất chưa có rừng (đất trống cỏ, bụi, gỗ rải rác) IA, IB, IC 294,86 2,45

Về thành phần loài, VQG Bến En ghi nhận 1.389 loài thực vật bậc cao thuộc 902 chi và 196 họ. Trong đó, ngành Hạt kín chiếm ưu thế tuyệt đối với 165 họ (84,2%) và 1.275 loài (91,8%). Đã ghi nhận 4 loài thực vật mới cho hệ thực vật Việt Nam gồm: Xâm cánh Bến En (Glyptopetalum sclerocarpum), Đậu khấu Bến En (Myristica yunnanensis), Găng Bến En (Timonius arboreus) và Cây họ gừng (Distichochlamys benenica, công nhận năm 2012). Có 40 loài thực vật nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), nổi bật là 2 loài Cực kỳ nguy cấp (CR): Re hương (Cinnamomum parthenoxylon) và Kim cang poilane (Smilax poilanei). Phân loại theo công dụng ghi nhận 314 loài lấy gỗ (23,5%), 248 loài làm thuốc (18,5%), 85 loài cây ăn quả (6,4%), 52 loài làm rau thực phẩm (3,9%) và 75 loài cây cảnh (5,6%).

Khu hệ động vật ghi nhận tính đa dạng cao với 84 loài thú (thuộc 25 họ, 9 bộ); 261 loài chim (56 họ, 18 bộ); 85 loài bò sát - lưỡng cư (21 họ); 68 loài cá (14 họ, 46 giống, trong đó họ Cá chép chiếm 54%); và 499 loài côn trùng (78 họ, 12 bộ). Có 10 loài thú quý hiếm trong Sách Đỏ gồm Vượn đen má trắng, Báo lửa, Gấu ngựa, Gấu chó, Sơn dương, Tê tê Java, Tê tê vàng, Sóc bay lông tai, Chồn dơi và Cầy mực. Tuy nhiên, các loài thú lớn như hổ, báo, gấu không còn được quan sát thấy ngoài tự nhiên trong 10 năm gần đây.

Nhóm sinh vật Số họ Số loài Số loài quý hiếm ghi nhận
Thực vật bậc cao 196 1.389 40 loài Sách Đỏ Việt Nam (02 CR, 13 EN, 25 VU)
Thú 25 84 10 loài quý hiếm (Vượn đen má trắng, Sơn dương, Gấu...)
Chim 56 261 08 loài Sách Đỏ (Cốc đế, Cò lạo Ấn Độ, Hạc cổ trắng...)
Bò sát - Ếch nhái 21 85 17 loài quý hiếm (Rùa hộp ba vạch, Rắn hổ chúa, Trăn...)
Cá 14 68 Khu hệ cá hồ Sông Mực, họ Cá chép chiếm ưu thế (37 loài)
Côn trùng 78 499 Bộ Cánh phấn (298 loài), Bộ Cánh cứng (102 loài)

Nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học

Áp lực suy giảm tài nguyên bắt nguồn từ sự hiện diện của 440 hộ dân vùng lõi xâm lấn đất rừng làm nương rẫy trồng mía, sắn, lúa do tình trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chồng lấn. Người dân địa phương thường xuyên khai thác các loài gỗ quý (Trường mật, Sến mật, Lim xanh, Giổi, Nghiến) và gỗ tạp; săn bắt lợn rừng, gà rừng, rắn, chim, cầy, mèo rừng; khai thác quá mức lâm sản ngoài gỗ (mật ong, song mây, măng tươi, nấm, cây thuốc). Ngoài ra, tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua khu vực tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông nhưng cũng làm tăng áp lực vận chuyển lâm sản trái phép. Hoạt động du lịch sinh thái vùng hồ Sông Mực phát triển nhưng thiếu hạ tầng xử lý rác thải, nước thải cục bộ từ các nhà hàng.

Thực trạng công tác quản lý và thực thi pháp luật

Ban quản lý VQG Bến En có 75 cán bộ, công nhân viên; Hạt Kiểm lâm quản lý 8 trạm kiểm lâm và 1 tổ kiểm lâm cơ động. Số liệu thực thi pháp luật lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2014 cho thấy mức độ phức tạp của tình hình vi phạm:

Năm Số vụ có chủ Số vụ vô chủ Khởi tố hình sự Gỗ tròn tịch thu (m³) Gỗ xẻ tịch thu (m³) Tiền phạt và bán tang vật (triệu đồng)
2006 32 26 0 19,230 3,060 58,500
2007 18 24 0 27,060 4,230 59,000
2008 24 22 0 2,075 6,373 40,017
2009 40 33 3 90,715 13,108 81,789
2010 51 16 3 70,239 13,837 121,350
2011 20 36 0 42,945 10,027 168,100
2012 12 16 1 13,100 7,095 45,000
2013 12 11 1 11,600 5,800 35,600
2014 8 7 0 10,800 4,700 15,700
Tổng 197 173 7 265,364 57,730 625,056

Ghi chú tang vật khác bị tịch thu trong giai đoạn: 28,9 ste củi, 1 súng K44, 3 súng săn/súng kíp, 3 viên đạn, 29 xe máy, 12 xe thồ/xe đạp, 2 xe trâu, 10 dao rựa, 1 rìu, 4 cá thể chim.

Đề xuất các giải pháp

  1. Hạn chế ảnh hưởng của cộng đồng dân cư: Giao đất khoán rừng gắn với quyền lợi sinh kế, hỗ trợ kỹ thuật thâm canh nông nghiệp vùng đệm, lập quy hoạch và từng bước giải quyết dứt điểm tình trạng 9 thôn sinh sống trong vùng lõi.
  2. Phát huy và bảo tồn nguồn gen: Tăng cường bảo tồn nội vi kết hợp bảo tồn ngoại vi, nhân giống các loài cây bản địa có giá trị kinh tế và bảo tồn cao như Lim xanh, Lát hoa, Re hương; kiểm soát loài ngoại lai xâm hại như Mai dương (Mimosa pigra) tại vùng bán ngập hồ Sông Mực.
  3. Hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý: Xử lý dứt điểm chồng lấn ranh giới đất rừng và đất nông nghiệp; bổ sung biên chế và trang thiết bị tuần tra (xuồng máy chuyên dụng); thực thi cơ chế phối hợp liên ngành và đồng quản lý giữa VQG với chính quyền địa phương.
  4. Quản lý hoạt động du lịch sinh thái: Đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải và rác thải tại các điểm tham quan; tập huấn nghiệp vụ cho nhân viên du lịch và đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục môi trường cho du khách.

Phần V: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các chỉ số tài nguyên sinh học đã kiểm kê, khẳng định tình hình vi phạm lâm luật đã có xu hướng giảm rõ rệt đến năm 2014. Kiến nghị UBND tỉnh Thanh Hóa và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục đầu tư nguồn lực, xem xét quy hoạch tái định cư cư dân vùng lõi và xúc tiến hồ sơ công nhận vùng đất ngập nước Bến En là khu Ramsar thế giới.


Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa dữ liệu đa dạng sinh học: Tổng hợp toàn diện danh lục gồm 1.389 loài thực vật bậc cao (ghi nhận 4 loài mới cho hệ thực vật Việt Nam và 40 loài thuộc Sách Đỏ) cùng khu hệ động vật gồm 84 loài thú, 261 loài chim, 85 loài bò sát - ếch nhái, 68 loài cá và 499 loài côn trùng.
  • Phản ánh thực trạng cơ cấu rừng: Đo đạc, phân hạng cụ thể 11.738,14 ha đất có rừng, chỉ ra trạng thái chiếm diện tích lớn nhất là rừng nghèo (3.514,01 ha, tương đương 30%), trong khi diện tích rừng giàu chỉ còn lại 162,42 ha (1,38%).
  • Thống kê chi tiết thực thi lâm luật: Xử lý và số hóa chuỗi dữ liệu 9 năm (2006 - 2014) của Hạt Kiểm lâm VQG với 370 vụ vi phạm bị xử lý, 7 vụ khởi tố hình sự, tịch thu 323,094 m³ gỗ các loại cùng nhiều phương tiện, vũ khí săn bắt.
  • Đóng góp của tác giả: Khóa luận cung cấp tài liệu nghiên cứu thực chứng về mối liên hệ xung đột giữa áp lực sinh kế của cộng đồng dân cư vùng lõi (440 hộ tại 9 thôn) với công tác bảo tồn, chỉ rõ các tồn tại trong quy hoạch đất đai (cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chồng lấn vào đất VQG) làm cơ sở tham khảo cho việc điều chỉnh chính sách quản lý rừng đặc dụng tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Quy mô mẫu điều tra xã hội học còn nhỏ (10 phiếu vùng lõi, 30 phiếu vùng đệm trên tổng thể hàng vạn dân cư toàn vùng), chưa phản ánh hết mức độ biến động chi tiết của thu nhập và hành vi khai thác lâm sản theo mùa vụ.
    • Số liệu kiểm kê đối với một số nhóm động vật hoang dã (đặc biệt là thú lớn và bò sát) chủ yếu dựa vào việc kế thừa báo cáo điều tra trước đó kết hợp phỏng vấn người dân và ghi nhận gián tiếp qua dấu vết (phân, vết chân), chưa tổ chức được các đợt bẫy ảnh chuyên sâu.
    • Đánh giá tác động của du lịch sinh thái và loài ngoại lai (cây Mai dương) mới dừng lại ở mức độ ghi nhận định tính, chưa có các đo đạc hóa lý cụ thể về chất lượng môi trường nước hồ Sông Mực.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Ứng dụng kỹ thuật bẫy ảnh tự động và định vị GPS để theo dõi biến động quần thể các loài thú nguy cấp, quý hiếm.
    • Nghiên cứu định lượng sức tải môi trường du lịch khu vực lòng hồ Sông Mực và xây dựng mô hình sinh kế chuyển đổi cho cư dân 9 thôn vùng lõi khi triển khai phương án giãn dân, tái định cư.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành: Địa chính môi trường, Quản lý tài nguyên rừng, Lâm nghiệp, Sinh thái học và Khoa học môi trường tham khảo về phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, thiết kế phiếu điều tra cộng đồng vùng đệm - vùng lõi và cấu trúc khóa luận quản lý tài nguyên.
  • Cơ quan quản lý và kiểm lâm: Ban quản lý VQG Bến En, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa và các Hạt Kiểm lâm liên huyện Như Thanh - Như Xuân có thêm bộ cơ sở dữ liệu về diễn biến vi phạm lâm luật giai đoạn 2006 - 2014, danh mục loài gỗ bị khai thác và các xung đột sử dụng đất thực tế.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Bảng phân chia hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp (Bảng 4.1), hệ thống danh lục các loài quý hiếm và bảng tổng hợp thực thi pháp luật chi tiết qua các năm (Bảng 4.14).

Câu hỏi thường gặp

1. Vườn quốc gia Bến En có diện tích bao nhiêu và nằm trên địa bàn các đơn vị hành chính nào?
VQG Bến En có tổng diện tích tự nhiên là 14.734,67 ha, gồm 18 tiểu khu (603, 610, 611, 612, 614, 615, 616, 617, 619, 620, 622, 625, 626, 628, 633, 634A, 634B và 636), nằm trên địa giới hành chính của 2 huyện Như Thanh và Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa 45 km về phía Tây - Nam.

2. Bốn loài thực vật mới của Việt Nam được ghi nhận phát hiện tại VQG Bến En là những loài nào?
Bốn loài thực vật mới gồm: Xâm cánh Bến En (Glyptopetalum sclerocarpum (Kurz) M.A Lawson), Đậu khấu Bến En (Myristica yunnanensis Y. Li), Găng Bến En (Timonius arboreus Elmer) và Cây họ gừng (Distichochlamys benenica, phát hiện năm 2011, công nhận năm 2012).

3. Tỷ lệ che phủ rừng tại VQG Bến En đạt bao nhiêu và trạng thái rừng nào chiếm diện tích lớn nhất?
Tổng diện tích đất có rừng là 11.738,14 ha trên tổng số 12.033 ha đất lâm nghiệp, đạt tỷ lệ che phủ 97,5%. Trong đó, trạng thái chiếm diện tích lớn nhất là rừng nghèo (mã IIIA1) với 3.514,01 ha (chiếm 30,0% diện tích đất có rừng); diện tích rừng giàu (mã IIIA3) chỉ chiếm 162,42 ha (1,38%).

4. Áp lực lớn nhất đối với việc bảo vệ rừng xuất phát từ cộng đồng dân cư vùng lõi như thế nào?
Trong vùng lõi của VQG Bến En vẫn còn 9 thôn thuộc 3 xã (Tân Bình, Xuân Quỳ, Hóa Quỳ) với 440 hộ và hơn 1.800 nhân khẩu sinh sống xen kẽ. Áp lực chính gồm tình trạng xâm lấn đất rừng làm nương rẫy canh tác mía, lúa, sắn do đất canh tác giáp ranh, sự chồng lấn trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cùng với thói quen chăn thả gia súc, khai thác gỗ và săn bắt động vật hoang dã.

5. Kết quả thực thi pháp luật lâm nghiệp tại VQG Bến En từ năm 2006 đến năm 2014 ghi nhận những số liệu nào?
Trong giai đoạn 2006 - 2014, lực lượng chức năng đã xử lý 370 vụ vi phạm (197 vụ có chủ, 173 vụ vô chủ), khởi tố hình sự 7 vụ; tịch thu 265,364 m³ gỗ tròn và 57,73 m³ gỗ xẻ; thu nộp ngân sách từ tiền xử phạt hành chính và bán tang vật đạt 625,056 triệu đồng; đồng thời tịch thu nhiều súng săn, đạn, xe máy, xe thồ và củi đốt.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Tâm đã hoàn thành việc điều tra, phản ánh thực trạng nguồn tài nguyên sinh học phong phú nhưng dễ bị tổn thương tại Vườn quốc gia Bến En đến năm 2014. Nghiên cứu chỉ ra những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học bắt nguồn từ áp lực dân sinh của 9 thôn vùng lõi, tình trạng khai thác lâm sản trái phép và những khó khăn trong quản lý diện tích rừng rộng lớn với nhân lực kiểm lâm hạn chế. Hệ thống các nhóm giải pháp bảo tồn nguồn gen, hoàn thiện cơ chế đồng quản lý và kiểm soát du lịch sinh thái được đề xuất có giá trị thực tiễn đối với công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên tại địa phương.