Luận văn thạc sĩ hiện trạng quản lý tài nguyên sinh học tại vườn quốc gia bến en huyện như thanh tỉnh thanh hóa đến năm 2014

Luận văn thạc sĩ phân tích hiện trạng quản lý tài nguyên sinh học tại Vườn Quốc gia Bến En, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2014.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

65
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích yêu cầu

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2. Yêu cầu

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tài nguyên sinh học tại Việt Nam

2.2. Một số khái niệm

2.2.1. Khái niệm đa dạng sinh học

2.3. Bảo tồn ĐDSH

2.3.1. Bảo tồn nội vi (in-situ conservation)

2.3.2. Bảo tồn ngoại vi (ex-situ conservation)

2.3.3. Bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng

2.4. Khái niệm về quản lý ĐDSH

2.5. Các công ước về quản lý và bảo tồn ĐDSH

2.5.1. Công ước ĐDSH

2.5.2. Công ước Ramsar về Đất ngập nước

2.5.3. Công ước CITES

2.6. Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên

2.7. Hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học trên Thế Giới và ở Việt Nam

2.7.1. Hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học trên Thế giới

3. PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phạm vi nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu

3.4.1.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
3.4.1.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

3.4.2. Phương pháp chuyên gia

3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu

4. PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Vườn quốc gia Bến En

4.1.1. Điều kiện tự nhiên

4.1.2. Vị trí địa lý

4.1.3. Điều kiện kinh tế xã hội

4.1.4. Thực trạng một số ngành sản xuất kinh tế

4.1.5. Cơ sở hạ tầng

4.2. Hiện trạng nguồn tài nguyên sinh học tại vườn quốc gia Bến En

4.2.1. Tài nguyên thực vật

4.2.1.1. Đa dạng các kiểu thảm thực vật
4.2.1.2. Đa dạng hệ sinh thái
4.2.1.3. Các loài thực vật có giá trị bảo tồn
4.2.1.4. Giá trị sử dụng của các loài thực vật

4.2.2. Tài nguyên động vật

4.2.3. Nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học tại VQG Bến En

4.2.4. Ảnh hưởng của người dân vùng đệm và vùng lõi đến tài nguyên sinh học

4.2.5. Ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái đến tài nguyên sinh học

4.2.6. Ảnh hưởng của pháp luật đến công tác quản lý bảo vệ rừng

4.2.7. Thực trạng công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh học tại VQG Bến En

4.2.8. Hệ thống cơ cấu tổ chức, nguồn lực và cơ sở hạ tầng

4.2.9. Công tác đào tạo phát triển du lịch sinh thái và giáo dục nhận thức

4.2.10. Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Bến En

4.2.10.1. Các giải pháp hạn chế tối đa ảnh hưởng của người dân đến sự đe doạ tính đa dạng sinh học tại VQG
4.2.10.2. Các giải pháp phát huy và bảo tồn nguồn gen
4.2.10.3. Giải pháp đối với hệ thống chính sách, cơ chế quản lý
4.2.10.4. Giải pháp đối với hoạt động du lịch

5. PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Quản lý tài nguyên sinh học tại Vườn Quốc Gia Bến En

Quản lý tài nguyên sinh học tại Vườn Quốc Gia Bến En là một nhiệm vụ quan trọng nhằm duy trì sự đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường. Vườn quốc gia này nằm tại huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa, với diện tích rộng lớn và hệ sinh thái phong phú. Hiện trạng quản lý cho thấy những nỗ lực trong việc bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức từ hoạt động của con người và biến đổi khí hậu. Các biện pháp bảo tồn sinh học được áp dụng bao gồm quy hoạch tài nguyên và quản lý môi trường, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững.

1.1. Đánh giá tài nguyên sinh học

Đánh giá tài nguyên sinh học tại Vườn Quốc Gia Bến En cho thấy sự đa dạng về hệ thực vật và động vật. Các nghiên cứu điều tra sinh học đã xác định nhiều loài quý hiếm, như lim xanh, voi, và hổ. Tuy nhiên, sự suy giảm đa dạng sinh học do khai thác quá mức và mất môi trường sống đang là vấn đề nghiêm trọng. Các giải pháp quản lý môi trườngbảo vệ môi trường được đề xuất nhằm hạn chế tác động tiêu cực và duy trì sự cân bằng sinh thái.

1.2. Chính sách bảo tồn và phát triển bền vững

Chính sách bảo tồn tại Vườn Quốc Gia Bến En tập trung vào việc bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm và duy trì hệ sinh thái tự nhiên. Các chiến lược phát triển bền vững được áp dụng nhằm cân bằng giữa bảo tồn và phát triển kinh tế. Các hoạt động du lịch sinh thái được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu tác động đến môi trường. Quy hoạch tài nguyênnghiên cứu sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các chính sách hiệu quả.

II. Hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học

Hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc Gia Bến En phản ánh những thành tựu và thách thức trong công tác bảo tồn. Vườn quốc gia này là nơi sinh sống của nhiều loài động thực vật quý hiếm, nhưng cũng đối mặt với nguy cơ suy giảm do hoạt động của con người. Các biện pháp bảo tồn sinh họcquản lý môi trường được triển khai nhằm bảo vệ các loài và duy trì hệ sinh thái. Tuy nhiên, sự thiếu hụt nguồn lực và nhận thức của cộng đồng đang là rào cản lớn.

2.1. Nguyên nhân suy giảm đa dạng sinh học

Nguyên nhân suy giảm đa dạng sinh học tại Vườn Quốc Gia Bến En bao gồm khai thác tài nguyên quá mức, mất môi trường sống, và biến đổi khí hậu. Các hoạt động du lịch không kiểm soát cũng gây ra tác động tiêu cực đến hệ sinh thái. Điều tra sinh họcđánh giá tài nguyên đã chỉ ra sự cần thiết của các biện pháp bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên hiệu quả hơn.

2.2. Giải pháp bảo tồn và quản lý

Các giải pháp bảo tồnquản lý tài nguyên sinh học tại Vườn Quốc Gia Bến En bao gồm tăng cường giám sát, nâng cao nhận thức cộng đồng, và áp dụng các công nghệ tiên tiến trong quản lý môi trường. Chính sách bảo tồnphát triển bền vững được ưu tiên nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế. Các nghiên cứu sinh thái họcđặc điểm sinh học tiếp tục được thực hiện để cung cấp dữ liệu hỗ trợ công tác bảo tồn.

III. Thực trạng quản lý và bảo tồn

Thực trạng quản lý và bảo tồn tại Vườn Quốc Gia Bến En cho thấy những nỗ lực trong việc bảo vệ tài nguyên sinh học, nhưng cũng đối mặt với nhiều khó khăn. Hệ thống quản lý môi trườngbảo vệ môi trường được triển khai nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ hoạt động của con người. Tuy nhiên, sự thiếu hụt nguồn lực và nhận thức của cộng đồng đang là rào cản lớn. Các nghiên cứu sinh họcđiều tra sinh học tiếp tục được thực hiện để cung cấp dữ liệu hỗ trợ công tác bảo tồn.

3.1. Hệ thống quản lý và cơ sở hạ tầng

Hệ thống quản lýcơ sở hạ tầng tại Vườn Quốc Gia Bến En được đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn. Các biện pháp quản lý môi trườngbảo vệ môi trường được áp dụng để giảm thiểu tác động tiêu cực từ hoạt động của con người. Tuy nhiên, sự thiếu hụt nguồn lực và nhận thức của cộng đồng đang là rào cản lớn. Các nghiên cứu sinh họcđiều tra sinh học tiếp tục được thực hiện để cung cấp dữ liệu hỗ trợ công tác bảo tồn.

3.2. Đề xuất giải pháp quản lý

Các đề xuất giải pháp quản lý tại Vườn Quốc Gia Bến En tập trung vào việc tăng cường giám sát, nâng cao nhận thức cộng đồng, và áp dụng các công nghệ tiên tiến trong quản lý môi trường. Chính sách bảo tồnphát triển bền vững được ưu tiên nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế. Các nghiên cứu sinh thái họcđặc điểm sinh học tiếp tục được thực hiện để cung cấp dữ liệu hỗ trợ công tác bảo tồn.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ hiện trạng quản lý tài nguyên sinh học tại vườn quốc gia bến en huyện như thanh tỉnh thanh hóa đến năm 2014

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu là việc tổ chức Hội nghị Thế giới các VQG lần thứ nhất từ những năm 60 của thế kỷ XX; vấn đề đào tạo chuyên sâu về quản lý động thực vật hoang dã cũng đã được quan tâm; các giải pháp bảo tồn ĐDSH, các chương trình hỗ trợ bảo tồn bằng nhiều hình thức khác nhau như hưởng lợi từ động vật hoang dã, con người và sinh quyển cũng đã được triển khai. Điều đặc biệt quan trọng là cứ 10 năm một lần, hội nghị các VQG và KBT được tổ chức, bắt đầu từ việc hỗ trợ các KBT đến việc chú ý nhiều đến các KBT ở những vùng nhiệt đới, việc gặp gỡ của các tổ chức bảo tồn và các Chính phủ tại các hội nghị đã rút ra được nhiều kinh nghiệm từ thực tế cũng như cơ hội để các nước có tiếng nói chung về vấn đề bảo tồn. Càng về sau, hội nghị càng chú trọng nhiều đến tình hình thực tiễn của hoạt động bảo tồn, cụ thể là tại hội nghị lần V hiệp ước Durban về biến đổi khí hậu toàn cầu và kế hoạch hành động được thông qua. (Hội nghị Durban được thỏa thuận lịch sử về khí hậu toàn cầu, 2011) [16] Nhằm đảm bảo phát triển bền vững, nhiều ngành, nhiều tổ chức liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên đang hình thành và xây dựng những phương thức tiếp cận mới về quản lý, (Pirot,J., 2005) đó là: (1) Quản lý hệ sinh thái, (2) Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng, (3) Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên, (4) Bảo tồn và phát triển tổng hợp, (5) Phát triển bền vững.

Các phương thức 9 e tiếp cận nêu trên đều giống nhau trong việc nỗ lực tìm kiếm một số giải pháp tối ưu để giải quyết mâu thuẫn và chia sẻ quyền lợi trong việc sử dụng các nguồn TNTN. Tuy nhiên, những điểm khác biệt cơ bản giữa các phương thức tiếp cận là sự nhìn nhận vấn đề, điểm trung tâm là tính ưu tiên của các phương pháp cụ thể được ứng dụng. Vì vậy muốn đạt được mục đích cơ bản trên thì phải tuân thủ các nguyên tắc của phát triển bền vững. Trên thế giới, phát triển bền vững, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng là vấn đề được chú trọng trong quản lý, sử dụng ĐDSH.

Đây là điều kiện tiên quyết để tạo nên sự thay đổi cần thiết cho sự phát triển của xã hội sinh thái học bền vững. Thực tế tại New Zealand cho thấy, vào những năm 1980, mạng lưới các VQG ở nước này bắt đầu phát triển và liên tục, vừa bảo vệ các vùng nhỏ, vừa tạo ra các khu giải trí cho cộng đồng. Hiện trạng quản lý và bảo tồn tại Việt Nam 2. Các chiến lược, chính sách quản lý và bảo tồn Nhận thức được tầm quan trọng của sự suy thoái tài nguyên ĐDSH, Việt Nam đã sớm có những hành động tích cực trong công tác bảo tồn ĐDSH.

Theo thống kê từ năm 1958 đến nay, có tới vài trăm văn bản pháp luật do Nhà nước và các ban ngành liên quan ban hành về vấn đề bảo tồn ĐDSH và các tài liệu hướng dẫn thi hành lần lượt được ban hành. Từ năm 1962, cục kiểm lâm được hình thành và rừng cấm đầu tiên tại Việt Nam là rừng Cúc Phương. Đến năm 1985, chiến lược bảo tồn quốc gia của Việt Nam được ban hành. Đây là một chiến lược đầu tiên được xây dựng ở một nước đang phát triển.

Và từ đó các các chính sách và luật về ĐDSH dần được hoàn thiện và ra đời như: Luật bảo vệ và phát triển rừng 1991 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004); Luật đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2003); Luật bảo vệ môi trường năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005); Luật thủy sản năm 2003; và gần đây nhất, luật Đa dạng sinh học được Quốc hội phê chuẩn tháng 11 năm 2008; Sách Đỏ Việt Nam lần đầu tiên được xuất bản năm 1992 (tái bản có những điều chỉnh cập nhật vào năm 2000 và 2007). 10 e Ngoài ra Việt Nam còn tham gia ký kết nhiều công ước quốc tế về môi trường có liên quan đặc biệt là: Công ước Ramsar về đất ngập nước (1975), công ước ĐDSH (1993) và Công ước CITES về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (1994). Các quy hoạch, kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn ĐDSH đã được ban hành và tổ chức thực hiện đặc biệt là kế hoạch hành động Quốc gia về ĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5 năm 2007. (Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia- Chuyên đề ĐDSH, 2010) [4] Bên cạnh đó các cấp, các ngành vẫn đang tổ chức thực hiện các kế hoạch, chiến lược về ĐDSH đã được phê duyệt trước năm 2010 như: Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 –2020”, Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020.

Hệ thống các văn bản quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến bảo vệ ĐDSH tuy đã được hình thành nhưng còn có nhiều khiếm khuyết và bất cập. Việt Nam là thành viên của Công ước ĐDSH nhưng cho đến nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào hoàn chỉnh để đảm bảo thực hiện Công ước này. Các văn bản hiện hành mới chỉ tập trung vào việc bảo tồn ĐDSH, trong khi đó, Công ước ĐDSH nêu ra ba mục tiêu: (1) Bảo tồn đa dạng sinh học; (2) Sử dụng bền vững tài nguyên; (3) Chia sẻ trung thực và công bằng lợi ích có được từ việc sử dụng tài nguyên gen. Ảnh hưởng của người dân vùng đệm và vùng lõi đến tài nguyên sinh học Phần lớn các VQG và KBT đã và đang được xây dựng thường nằm giữa khu vực có dân cư sinh sống nên chịu sức ép hết sức nặng nề.

Cộng đồng địa phương, những người sống trong, hay gần các khu bảo tồn đã nhiều đời có mối liên quan trực tiếp với thiên nhiên các vùng đó, cuộc sống của họ lệ thuộc phần lớn vào việc khai thác TNTN. Tuy nhiên, công cuộc bảo tồn ngày nay thường bỏ qua những yêu cầu thiết yếu của họ và đồng thời cũng ít lưu ý đến các giá trị văn hoá, các phong tục tập quán, những hiểu biết của họ về thiên nhiên, về các loài mà họ rất quen thuộc, cách thức tổ chức bảo tồn thiên nhiên mà cộng đồng đã đúc rút từ nhiều đời nay. 11 e Mỗi khi xây dựng một khu bảo tồn, người dân sống ở quanh hoặc trong KBT buộc phải hy sinh quyền lợi riêng của mình, họ không được khai thác tài nguyên như trước vì lợi ích của quốc gia và các thế hệ mai sau. Ảnh hưởng của hoạt động du lịch sinh thái đến tài nguyên sinh học a.

Các tác động tích cực Bảo tồn thiên nhiên: Du lịch góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào việc bảo tồn các diện tích tự nhiên quan trọng, phát triển các Khu Bảo tồn và Vườn Quốc gia. Tăng cường chất lượng môi trường: Du lịch có thể cung cấp những sáng kiến cho việc làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chất lượng không khí, nước, đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác thông qua các chương trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc. Cải thiện hạ tầng cơ sở: Các cơ sở hạ tầng của địa phương như sân bay, đường sá, hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc sẽ được chú trọng hơn để đảm bảo môi trường và thu hút khách du lịch. Qua đó, cơ sở hạ tầng tại địa điểm du lịch sinh thái dần được cải thiện.

Tăng cường hiểu biết về môi trường: Qua việc du lịch sinh thái du khách cũng như người dân địa phương sẽ có điều kiện để trao đổi và học tập kiến thức với nhau, qua hoạt động du lịch sinh thái kết hợp tuyên truyền nâng cao kiến thức về môi trường cho người dân bản địa và khách tham quan. Các tác động tiêu cực đến môi trường sinh học Các yếu tố gây ô nhiễm như rác thải, nước thải do tập trung nhiều tại một điểm tỷ lệ theo sự gia tăng lượng khách du lịch và không được xử lý đúng quy cách sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái, đặc biệt là các hệ sinh thái dưới nước. Trong các khu bảo tồn tự nhiên, rác thải không được thu gom kịp thời gây khó khăn cho công tác bảo tồn vì ngoài việc gây ô nhiễm đến các thành phần môi trường khác, các chất phế thải sẽ thu hút các loài động vật như linh cẩu, kền kền, cò, khỉ đầu chó… Thêm nữa, rác thải là nguy cơ làm lây lan bệnh dịch, ảnh hưởng xấu 12 e đến sức khoẻ của nhiều loài động vật được bảo tồn, của nhân viên khu bảo tồn và cả du khách. Các hoạt động du lịch tại các khu vực có mặt nước (như đi thuyền máy tham quan, đua mô tô nước…) đều có khả năng huỷ hoại các loài thủy sinh.

Việc phát triển hoạt động du lịch săn bắn nếu không được quản lý chặt chẽ cũng có thể là nguyên nhân làm giảm đi nhiều loại sinh vật đang bị đe dọa diệt vong. Việc sử dụng đất không hợp lý cho phát triển du lịch, đặc biệt là trong các khu bảo tồn có thể ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của nhiều loài động vật và thực vật do nhiều loài rất nhạy cảm với các biến động môi trường khi bị xâm lấn hoặc trạng thái ồn ào, ô nhiễm môi trường thành phần., vì vậy các loài động vật sẽ thay đổi tập tính trong quá trình sinh trưởng, và nhiều loài động vật nhỏ có nguy cơ bị đè, giẫm. Những hoạt động của khách du lịch như giẫm đạp lên cỏ, hái hoa quả bừa bãi, chặt cây lấy củi đốt lửa trại, leo núi ồ ạt làm cho nhiều thực vật bị mất dần. 13 e PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.

Đối tượng nghiên cứu - Hiện trạng quản lý tài nguyên sinh học tại VQG Bến En. Phạm vi nghiên cứu - Vườn quốc gia Bến En huyện Như Thanh tỉnh Thanh Hóa. Nội dung nghiên cứu - Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội vườn quốc gia Bến En. - Hiện trạng tài nguyên sinh học tại vườn quốc gia Bến En - Nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học tại vườn quốc gia - Thực trạng công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh học tại vườn quốc gia Bến En.

- Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bến En.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Hiện Trạng Quản Lý Tài Nguyên Sinh Học Tại Vườn Quốc Gia Bến En, Như Thanh, Thanh Hóa Đến Năm 2014 là một tài liệu quan trọng phân tích thực trạng quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh học tại Vườn Quốc Gia Bến En. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các thách thức và cơ hội trong việc bảo vệ đa dạng sinh học, đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về vai trò của các khu bảo tồn trong việc duy trì cân bằng sinh thái và phát triển bền vững.

Để mở rộng kiến thức về quản lý tài nguyên và môi trường, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ tăng cường công tác quản lý rừng sản xuất trên địa bàn huyện Võ Nhai, Thái Nguyên, hoặc Luận văn thạc sĩ đề xuất giải pháp tăng cường quản lý tài nguyên đất đai tại quận Hà Đông, Hà Nội. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ đề xuất giải pháp bảo vệ bờ biển huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu sâu hơn về các biện pháp bảo vệ môi trường tại các khu vực địa phương.