CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ RỪNG 1. Tổng quan về vai trò quản lý nhà nước đối với bảo vệ rừng 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm quản lý, quản lý nhà nước Khái niệm quản lý Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Quản lý là một cụm từ mang tính chất nhiều nghĩa và có sự khác biệt nội dung giữa khía cạnh rộng và hẹp. Tương ứng với những đặc trưng KT-XH khác nhau, những đặc thù về nghề nghiệp khác nhau nên từ đó góc nhìn về “quản lý” cũng được tiếp cận khác nhau. Song song với sự thay đổi về quan niệm và tiến bộ xã hội mà sự cách biệt về cách tiếp cận các quan niệm về “quản lý” từ đó càng trở nên xa hơn. Hà Công Tuấn (2006) cho rằng: quản lý gắn liền với sự ra đời của đời sống con người và được nhiều học giả nghiên cứu góc độ chuyên ngành đa dạng như triết học, kinh tế, văn hóa tiếp cận và nghiên cứu.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả cho rằng, khởi nguồn ban đầu của khái niệm “quản lý” được hiểu là: đây là một hoạt động nhằm hướng đến việc cuối cùng là đảm bảo cho công việc được hoàn thành đúng như mong cầu ban đầu. Bên cạnh đó, Phan Hồn Nhiên (2015) lại cho là: quản lý là việc triển khai và phối hợp một cách có hiệu quả của các thành viên tham gia vào một hoạt động nhằm đạt được mục tiêu mà do chính tập thể đề ra. Theo Trần Minh Hương (2019), quản lý bao gồm các bước cơ bản: ban đầu là thiết lập các điều kiện quản lý, thứ nữa là sẽ điều khiển theo những điều kiện đã được thiết lập và quy định trước đó nhằm hướng đến mục tiêu cuối cùng mà người quản lý hay tập thể mong muốn đạt được. Có thể thấy, trong hoạt động quản lý bắt buộc phải có sự xuất hiện của chủ thể quản lý.
Chủ thể đó có thể là một cá nhân cụ thể hoặc là một tổ chức có tư cách pháp nhân. Chủ thể quản lý gắn liền với những trách nhiệm và quyền hạn đi kèm, vì một 7 khi có quyền hạn thì chức năng quản lý mới đi vào hoạt động hiệu quả và đảm bảo sự tuân thủ từ những thành viên còn lại trong tổ chức nhằm hướng đến việc đạt được những kết quả mà chủ thể mong muốn. Nói như vậy, không phải là tất cả những tiêu thức quản lý được lập ra hình thành một cách tự do mà nó sẽ có sự ràng buộc và giới hạn trong những quy phạm pháp luật, quy phạm chính trị và đặc trưng văn hóa, xã hội của địa phương, quốc gia. Do đó, có thể hiểu một cách tổng quan rằng: quản lý là một hoạt động mà ở đó chủ thể sử dụng những cách thức, phương tiện nào đó tác động vào một hoặc nhiều đối tượng hướng đến việc đạt được những mục tiêu quản lý mà chính chủ thể đề ra, quan tâm.
Khái niệm quản lý nhà nước Nhà nước ra đời cũng chính là căn cơ hình thành nên nhu cầu QLNN; mục đích hướng tới là gia tăng tính quy cũ trong việc thiết lập trật tự xã hội. Ở mỗi thời kỳ khác nhau, thể chế chính trị và điều kiện văn hóa cũng như những điều kiện khác nhau mà những yêu cầu về quản lý nhà nước cũng sẽ trở nên khác nhau. Có thể thấy, QLNN được hiểu là một cách thức vận hành xã hội, là một hoạt động không hề đơn giản bởi những diễn tiến trong đời sống xã hội là vô cùng phong phú và đa dạng. QLNN có thể hiểu dưới 2 khía cạnh: + Theo nghĩa rộng: QLNN được hiểu là toàn bộ quy trình hoạt động của một bộ máy nhà nước bao gồm từ hoạt động thiết lập các luật định đến quá trình triển khai cũng như xử lý những công việc phát sinh trong hoạt động quản lý.
+ Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước là cách thức do đơn vị hành chính nhà nước triển khai và thực hiện. Trần Minh Hương (2019) cho rằng: QLNN không đồng nghĩa với tất cả mọi quyền lực đều thuộc về NN, độc quyền trong quá trình thiết lập và triển khai mà ở đó phải dựa trên ý kiến và sự đồng thuận chung của xã hội, Nhà nước là đại diện cho quyền lực và đứng ra xử lý những công việc trong xã hội ở tầng vĩ mô. Kết quả mang lại hướng đến tạo ra những tác động tích cực cho xã hội. Theo Phan Huy Đường và Phan Anh (2017), QLNN là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối… để đạt được mục tiêu KT-XH 8 trong tùng thời kỳ xác định.
QLNN có những đặc điểm nổi bật: (1) Đây là hoạt động độc quyền của cơ quan nhà nước, triển khai thông qua mệnh lệnh của nhà nước. (2) mang tính chất liên tục và có sự cải tiến tương thích với quá trình vận hành của mỗi quốc gia, mỗi địa phương ở từng thời kỳ. Khái niệm quản lý nhà nước về bảo vệ rừng Theo Trần Minh Hương (2019), QLNN về bảo vệ rừng là một bộ phận cụ thể trong tổng thể QLNN nói chung, chính vì vậy nó chứa đựng những nội dung của QLNN nhưng dưới góc nhìn chuyên ngành về lĩnh vực BVR hơn. QLNN về BVR được biết là một hoạt động mà ở đó Nhà nước là chủ thể quản lý tiến hành xây dựng chính sách, đưa ra nhữg tiêu chí cụ thể về mặt pháp luật và thông qua những quy định để kiểm soát và quản lý thực trạng BVR nhằm hướng đến những mục tiêu, yêu cầu mà Nhà nước đưa ra.
Phân loại rừng - Căn cứ theo trữ lượng thì rừng phân chia thành các loại như sau: a) Rừng giàu: trữ lượng cây đứng lớn hơn 200 m3/ha; b) Rừng trung bình: trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 100 đến 200 m3/ha; c) Rừng nghèo: trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 50 đến 100 m3/ha; d) Rừng nghèo kiệt: trữ lượng cây đứng từ 10 đến 50 m3/ha; đ) Rừng chưa có trữ lượng: trữ lượng cây đứng dưới 10 m3/ha. - Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng tự nhiên và rừng trồng được phân thành 03 loại như sau: a) Rừng đặc dụng; b) Rừng phòng hộ; c) Rừng sản xuất. - Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, tín ngưỡng, danh lam thắng cảnh kết hợp du lịch sinh thái; nghỉ dưỡng, giải trí trừ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng; cung ứng dịch vụ môi trường rừng bao gồm: 9 a) Vườn quốc gia; b) Khu dự trữ thiên nhiên; c) Khu bảo tồn loài - sinh cảnh; d) Khu bảo vệ cảnh quan bao gồm rừng bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; rừng tín ngưỡng; rừng bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao; đ) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học; vườn thực vật quốc gia; rừng giống quốc gia. - Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, sạt lở, lũ quét, lũ ống, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh, kết hợp du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng; được phân theo mức độ xung yếu bao gồm: a) Rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng bảo vệ nguồn nước của cộng đồng dân cư; rừng phòng hộ biên giới; b) Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển.
- Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để cung cấp lâm sản; sản xuất, kinh doanh lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Đặc điểm quản lý nhà nước về bảo vệ rừng 1. Rừng là đối tượng quản lý nhà nước đặc thù Rừng là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo và có tính chất quyết định trong việc gìn giữ hệ sinh thái của trái đất; rừng không chỉ là các cây cổ thụ mà bao hàm trong đó là tài sản trong rừng hợp thành như các thảm thực vật, vi sinh vật, động vật các loại, thổ nhưỡng của rừng; tất cả các yếu tố này hòa quyện lại và hình thành đặc điểm riêng của mỗi loại rừng khác nhau. Theo Nguyễn Thanh Huyền (2012), có sự gắn kết chặt chẽ đời sống của người dân ven rừng và rừng, tất cả những giá trị của rừng đều có ý nghĩa dưới góc độ kinh tế cũng như xã hội.
Rừng được chia ra làm 3 loại cơ bản: rừng phòng hộ, rừng sản xuất và rừng đặc dụng. Mỗi loại rừng khác nhau đều có tính chất rừng khác nhau do 10 đó công tác thực hiện QLNN về rừng từ đó cũng sẽ có nhiều điều khác nhau. Tuy nhiên, cho dù có sự khác nhau cơ bản về tính chất rừng nhưng quá trình phải có sự đồng bộ giữa các đơn vị quản lý nhà nước. Đặc điểm cơ bản về chủ thể chịu sự quản lý Trong lĩnh vực BVR, chủ thể chịu sự QLNN đến từ các đơn vị, cá thể hoặc cộng đồng có mối quan hệ trực tiếp đến công tác BVR.
Có thể thấy, các chủ thể này khá đa dạng khi xem xét dưới tiêu chí về kinh tế cũng như địa vị xã hội. Vai trò về rừng của mỗi đối tượng đều có sự riêng biệt: + Đối với các rừng đặc dụng và rừng phòng hộ sẽ được nhà nước giao cho ban quản lý rừng nhằm tập trung chuyên môn hóa cao trong việc phát triển đất và phát triển rừng. + Đối với những tổ chức kinh tế sẽ được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng. + Đối với các hộ gia đình, cá nhân trong nước được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng.
+ Các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư tại Việt Nam được nhà nước cho thuê rừng, cho thuê đất để phát triển rừng. Có thể thấy, đối tượng tham gia vào quá trình BVR khá đa dạng; và tùy vào mỗi đối tượng khác nhau, sự khác nhau ở mỗi loại rừng mà những yêu cầu về QLNN đối với rừng cũng sẽ có sự khác nhau và tương thích với thực tiễn rừng hiện nay ở nước ta.