Chương 1. Giới thiệu vấn đề nghiên cứu ● Chương 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ● Chương 3. Phương pháp nghiên cứu ● Chương 4.
Kết quả nghiên cứu ● Chương 5. Kết luận và kiến nghị 5 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chương 2 “Tổng quan vấn đề nghiên cứu” đóng vai trò là khung nền tảng cho nghiên cứu, cung cấp cái nhìn tổng quan toàn diện về các khái niệm và lý thuyết chính liên quan đến chủ đề nghiên cứu. Việc nắm vững những yếu tố này là cần thiết để phát triển các phương pháp nghiên cứu hiệu quả trong các chương tiếp theo.
Chương này sẽ làm sáng tỏ các khái niệm này dựa trên những góc nhìn đa dạng từ các cá nhân, tổ chức, cơ quan khác nhau, từ đó xây dựng nên cái nhìn khách quan, đa diện về vấn đề nghiên cứu. Các khái niệm được đề cập sẽ bao gồm: xuất khẩu, khí nhà kính, dân số, Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chính sách Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM). Ngoài ra, chương 2 sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan toàn diện về các nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan đến chủ đề nghiên cứu. Mỗi nghiên cứu đều thể hiện những điểm tương đồng và khác biệt về phương pháp, phạm vi và kết quả.
Thông qua việc tìm hiểu các bài nghiên cứu liên quan, nhóm tác giả xác định những điểm mạnh và hạn chế của các nghiên cứu trước đây, nêu bật những vấn đề chưa được giải quyết cần được chú ý trong nghiên cứu này và những nỗ lực nghiên cứu trong tương lai, đồng thời tránh lặp lại những nghiên cứu đã được thực hiện. Phần đánh giá các nghiên cứu cũng đóng vai trò là cơ sở để lựa chọn một phương pháp nghiên cứu phù hợp phù hợp với mục tiêu, dữ liệu và giả thuyết nghiên cứu. Các khái niệm liên quan 2.1 Xuất khẩu Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động đưa hàng hoá ra khỏi một nước (từ quốc gia này sang quốc gia khác) để bán trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán hoặc trao đổi lấy một hàng hoá khác có giá trị tương đương (Belay S. Nói một cách khái quát, xuất khẩu hàng hoá là việc đưa hàng hoá ra nước ngoài để thực hiện giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá.
Xuất khẩu tăng trưởng cao là sự gia tăng về kim ngạch, giá trị xuất khẩu. Ngô Thị Mỹ và Trần Nhuận Kiên (2016) cho rằng xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của đất nước trong phân công lao động quốc tế để đem lại lợi ích cho quốc gia. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh 6 với phạm vi vượt ra khỏi biên giới quốc gia hoặc là hoạt động buôn bán của một nước với nước khác trên phạm vi quốc tế (Nguyễn Văn Tuấn, 2008). Đây không phải là hành vi mua bán đơn lẻ mà là cả hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm thúc đẩy hàng hóa phát triển ổn định đem lại lợi ích cho quốc gia.
Theo khoản 1, Điều 28, Chương 2 Luật Thương mại Việt Nam (2005), xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Hiểu theo cách khái quát, xuất khẩu là một hình thức bán hàng cho nước ngoài để thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp và quốc gia. Có nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu, dưới góc độ tiếp cận của bài nghiên cứu, xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của đất nước trong phân công lao động quốc tế để đem lại lợi ích cho quốc gia.2 Khí nhà kính Theo Michael E. Mann (1998), Khí nhà kính là bất kỳ loại khí nào có khả năng hấp thụ bức xạ hồng ngoại (năng lượng nhiệt tỏa ra) từ bề mặt Trái Đất và phát lại nó trở lại bề mặt Trái Đất, góp phần tạo nên hiệu ứng nhà kính.
Khí nhà kính quan trọng nhất bao gồm carbon dioxide (CO2), methane (CH4) và hơi nước (H2O). Mặc dù chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số các khí trong khí quyển, nhưng khí nhà kính lại có ảnh hưởng sâu sắc đến cân bằng năng lượng của hệ thống Trái Đất. Định nghĩa này khá tương đồng với khái niệm khí nhà kính được IPCC (2014) đưa ra: "Khí nhà kính là những thành phần khí trong khí quyển có thể hấp thụ và phát ra bức xạ trong dải hồng ngoại nhiệt, giữ nhiệt trong khí quyển". Các ví dụ về khí nhà kính trong khí quyển bao gồm hơi nước, carbon dioxide, methane và oxit nitơ.
Trong đó, Carbon dioxide được định nghĩa là một hợp chất hóa học bao gồm hai nguyên tử oxy liên kết cộng hóa trị với một nguyên tử carbon. CO 2 là khí ở trạng thái nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn và có mặt trong bầu khí quyển Trái đất. CO 2 là một loại khí 7 không màu, không mùi, được tạo ra bởi tất cả động vật, thực vật, nấm và vi sinh vật. Ngoài ra, CO2 còn được tạo ra từ tác dụng phụ của việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch.
Schmidt, David Rind, Reto A. Rued (2010) cũng cho rằng carbon dioxide (CO2) là loại khí nhà kính quan trọng nhất liên quan đến khí hậu trong bầu khí quyển Trái đất. Khi xem xét sâu hơn cho thấy CO2 là chất kiểm soát biến đổi khí hậu. CO2 là một loại khí được trộn đều, không ngưng tụ hoặc kết tủa từ khí quyển.
Như vậy có thể khẳng định sự gia tăng nồng độ CO2 do hoạt động của con người là nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu trên toàn cầu. Khí nhà kính, đặc biệt là khí thải carbon dioxide (CO2), được coi là một trong những nguyên nhân cốt lõi gây ra biến đổi khí hậu và nó đã trở thành một trong những vấn đề môi trường quan trọng nhất trên thế giới (Rehman et al.3 Dân số Theo khái niệm của Tổng cục Thống kê Việt Nam, dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính. Dân số là một khái niệm quan trọng trong sinh học con người, đề cập đến tổng số cư dân sinh sống trong một khu vực nhất định. Quy mô dân số liên tục thay đổi do các yếu tố như sinh đẻ, tử vong, di cư.
Giống như bất kỳ quần thể sinh vật nào, quy mô dân số con người bị giới hạn bởi nguồn cung cấp thực phẩm, ảnh hưởng của bệnh tật và các yếu tố môi trường khác. Bên cạnh những yếu tố sinh học, dân số con người còn chịu ảnh hưởng bởi các phong tục xã hội chi phối việc sinh sản và sự phát triển công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế và y tế công cộng, giúp giảm tỷ lệ tử vong và kéo dài tuổi thọ. Về mặt thống kê, dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý, vùng kinh tế hoặc một đơn vị hành chính, với quy mô dân số tại một thời điểm nhất định. Thuật ngữ dân số không chỉ hàm chứa số dân mà còn phản ánh chất lượng của dân số như kết cấu, sự phân bố, trình độ văn hoá.
Chất lượng dân số ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của một quốc gia hoặc khu vực. Martínez-Mesa (2014) đã đưa ra định nghĩa rằng: “dân số là một nhóm cá thể bị giới hạn trong một vùng địa lý (khu phố, thành phố, bang, quốc gia, lục địa, v.) hoặc một số tổ chức nhất định (bệnh viện, trường học, trung tâm y tế, v. Nói cách khác, dân số là 8 một tập hợp các cá thể có ít nhất một đặc điểm chung”. Định nghĩa này tập trung vào yếu tố giới hạn địa lý và đặc điểm chung của các cá thể trong một nhóm, giúp làm rõ và cụ thể hóa khái niệm dân số trong sinh học con người.4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) FDI là viết tắt của cụm từ “Foreign Direct Investment” – Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Khái niệm này có thể được giải thích bằng việc định nghĩa hai cấu thành của nó: đầu tư trực tiếp và đầu tư nước ngoài. Đầu tư trực tiếp là hình thức chủ đầu tư bỏ ra một lượng tài sản đủ lớn để lập cơ sở sản xuất mới hoặc mua lại các cơ sở sản xuất hiện có và trực tiếp quản lý các tài sản đó. Hình thức đầu tư này còn được gọi là đầu tư phát triển (Nhạ, 2013). Hình thức đầu tư này có sự phân biệt tương đối với đầu tư gián tiếp: trong đầu tư gián tiếp, chủ đầu tư bỏ ra tài sản (chủ yếu dưới dạng vốn) để mua các chứng chỉ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, v.
nhằm hưởng lợi tức mà không trực tiếp quản lý những tài sản ấy (Nhạ, 2013). Đầu tư nước ngoài bao hàm sự dịch chuyển dòng vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác, đem lại cho chủ đầu tư nước ngoài cả quyền hạn và tài sản từ hoạt động của đối tượng nhận đầu tư (Chen, 2020). Có thể nói một cách nôm na rằng đầu tư nước ngoài là nguồn đầu tư cho một quốc gia đến từ chủ đầu tư ở quốc gia khác. Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư có quy mô lớn trong dài hạn của một cá nhân, hoặc pháp nhân ở một quốc gia để lập cơ sở sản xuất mới hoặc mua lại cơ sở sản xuất cũ và trực tiếp quản lý, thu lợi ích từ các cơ sở đó.
Nói chung, thuật ngữ này được sử dụng để nói về một quyết định kinh doanh để nhận được tầm ảnh hưởng lớn trong một doanh nghiệp nước ngoài (hoặc mua lại nó hoàn toàn) để mở rộng hoạt động của nó và kiếm được lợi nhuận từ nó. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra định nghĩa như sau: “FDI là một hoạt động nhằm đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp” (Hernando, 2003).