đặt vấn đề chung hoặc cho từng khu vực cụ thể, nên việc áp dụng cho các lãnh thổ khác, đặc biệt là ở Việt Nam – một quốc gia vùng nhiệt đới cận xích đạo với điều kiện về con ngƣời, công cụ nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên gặp rất nhiều khó khăn. - Hƣớng nghiên cứu ứng dụng hệ thống thông tin địa lý và các nguồn dữ liệu quan trắc để xây dựng mô hình phục vụ những mục đích nhất định trong quản lý, quy hoạch, đánh giá tài nguyên thiên nhiên và đặc biệt là tài nguyên môi trƣờng đất. - Cũng vào năm 2009, nhà khoa học C. Aubrecht và cộng sự đã giới thiệu công trình về tích hợp quan sát Trái đất và khoa học GIS để mô hình hóa các chức năng mới từ việc sử dụng đất đô thị [70].
Công trình này đã mở ra hƣớng mới, đi sâu nghiên cứu về giám sát và quản lý tài nguyên thiên nhiên ở quy mô rộng lớn. Qua đó, mở ra những ứng dụng mới, nhanh, mạnh, trong các giải pháp về không gian và bản đồ. Tuy nhiên, cũng gợi mở nhiều cho các công trình nghiên cứu cấp quốc gia và nhỏ hơn. Hiện nay, theo tìm hiểu của tác giả chƣa có công trình nào đề xuất cơ sở khoa học riêng cho thành lập bản đồ môi trƣờng đất, cũng nhƣ bản đồ môi trƣờng đất cấp tỉnh.
Tuy nhiên, trong các công trình cụ thể liên quan đến môi trƣờng, đánh giá môi trƣờng, bản đồ đất, ô nhiễm môi trƣờng thì rất nhiều. Các bản đồ đƣợc thành lập ít nhiều đã phản ánh đƣợc CLMT đất, nhƣng chỉ đóng vai trò minh họa cho các kết quả nghiên cứu cụ thể. Hƣớng nghiên cứu cơ sở lý luận bản đồ học chuyên đề và ứng dụng - Bản đồ học chuyên đề là khoa học có lịch sử phát triển từ lâu, đƣợc hình thành và phát triển gắn với sự phát triển của các lĩnh vực nghiên cứu chuyên ngành. Ở Việt Nam bản đồ cũng đƣợc hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử phát - 22 - triển của đất nƣớc, song về khoa học thƣờng phát triển sau so với các nƣớc phát triển trên thế giới.
Do vậy, đƣợc kế thừa và tiếp thu khá nhiều các thành tựu khoa học của thế giới, trong đó có bản đồ học. Hầu hết các giáo trình, sách tham khảo về bản đồ, đƣợc biên dịch, kế thừa và phát triển có sáng tạo của các nhà khoa học Việt Nam, phù hợp với điều kiện lịch sử nƣớc nhà. Đánh dấu mốc lịch sử phát triển về bản đồ là bộ bản đồ thời Nguyễn “An Nam đại quốc họa đồ”, công trình đã khẳng định một Việt Nam bất khuất trên bản đồ thế giới. Trong giai đoạn từ năm 1980 đến 1990 ở nƣớc ta đã triển khai một số đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Nhà nƣớc để nghiên cứu những cơ sở lý luận rất cơ bản của bản đồ học ở Việt Nam trong từng lĩnh vực nhƣ: bản đồ địa hình, bản đồ giáo khoa, bản đồ chuyên đề, các công trình ứng dụng ảnh vệ tinh trong thành lập bản đồ, các công trình nghiên cứu về công nghệ chế bản và in bản đồ… Đây là những công trình nghiên cứu mang tính chất vận dụng và hoàn chỉnh cơ sở lý luận Bản đồ học vào điều kiện thực tế ở Việt Nam.
Các đề tài đã đƣợc nghiệm thu và ứng dụng có hiệu quả ở nƣớc ta trong hơn 30 năm qua. - Bản đồ học chuyên đề là khoa học nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn các vấn đề tự nhiên và KT-XH. Tác giả Lê Huỳnh và Lê Ngọc Nam (2001), “Bản đồ chuyên đề” đã trình bày cơ sở lý luận về bản đồ học chuyên đề, đề cập tới nguyên tắc thành lập một số bản đồ cụ thể nhƣ: bản đồ địa chất, thổ nhƣỡng, thực vật, dân cƣ, nông nghiệp, du lịch… Tuy nhiên, khi nghiên cứu thành lập bản đồ cho các chuyên đề sâu, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà bản đồ và các nhà khoa học chuyên môn. + Sự kết hợp giữa các khoa học liên ngành để tạo nên những thành quả khoa học nổi bật đƣợc thể hiện rõ nhất trong công trình Atlas Quốc gia Việt Nam, đó là một chƣơng trình nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Nhà nƣớc, chủ nhiệm chƣơng trình là cố giáo sƣ Nguyễn Văn Chiển.
Đây là thành tựu khoa học – công nghệ về Bản đồ học lớn nhất Việt Nam từ trƣớc đến nay, thu hút gần 300 nhà khoa học tham gia, đã đƣợc Nhà nƣớc trao tặng Giải thƣởng Hồ Chí Minh về Khoa học và công nghệ. Ý nghĩa của công trình khoa học này đã đƣợc Đại tƣớng Võ Nguyên Giáp nêu - 23 - trong bài viết đề dẫn: “Atlas quốc gia Việt Nam là một công trình khoa học tổng hợp, toàn diện, dựng lên một bức tranh tổng thể của đất nước, một bộ chuyên khảo địa lý tổng hợp lớn bằng ngôn ngữ bản đồ, mang nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn”. + Năm 2000, Hội Khoa học đất Việt Nam đã công bố những tƣ liệu cơ bản về Đất Việt Nam, NXB Nông nghiệp, trong đó có bảng chú giải bản đồ đất tỷ lệ 1:1. Cuốn sách đã khái quát đƣợc tình hình nghiên cứu, phân loại điều tra đất trên thế giới và ở Việt Nam.
Trên thế giới đã tổng quan theo 3 giai đoạn: giai đoạn giữa thế kỉ XIX trở về trƣớc, giai đoạn nửa sau của thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX và giai đoạn nửa cuối thế kỉ XX. - Sự thành công ấy đƣợc tiếp tục phát huy trong những năm đầu của thế kỷ XXI, thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu thành lập các bản đồ và các tập bản đồ thể hiện lãnh thổ Việt Nam về các chủ đề nhƣ: + Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng đã ban hành thông tƣ số 03/2011/TT- BTNMT, quy định nội dung thành lập bản đồ địa chất khoáng sản chi tiết và thiết kế, bố trí các dạng công việc đánh giá khoáng sản. Vào cuối năm 2012 Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng ban hành Thông tƣ số 23/2012/TT-BTNMT về “Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về lập bản đồ địa chất khoáng sản 1:50.000 phần đất liền”. Mới nhất là thông tƣ số 2/2013/TT-BTNMT, Quy định việc lập bản đồ hiện trạng, bản vẽ mặt cắt hiện trạng khu vực được phép khai thác khoáng sản, thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản [12,14,15].
Đây là những căn cứ khoa học quan trọng để quản lý tài nguyên, khoáng sản và thành lập các bản đồ địa chất, đồng thời góp phần làm rõ đặc điểm tài nguyên đất tại các khu vực nghiên cứu. Công trình “Bản đồ Địa chất Việt Nam tỷ lệ 1:1.000” thể hiện một cách chi tiết, đầy đủ về địa chất Việt Nam và phần thềm lục địa, là sản phẩm khoa học của ngành Địa chất Việt Nam hiện nay. + Công trình thành lập “Tập bản đồ Nông nghiệp Việt Nam” đã mô tả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2001 do Quỹ Sáng kiến Chính sách chăn nuôi vì ngƣời nghèo (PPLP), Cục chăn nuôi Thú y (AGAL), Tổ chức Nông lƣơng quốc tế (FAO) và Vụ Thống kê nông, lâm, thủy sản, Tổng cục thống kê Việt - 24 - Nam (GSO) thực hiện. Ngƣời chịu trách nhiệm biên tập M.
+ Các căn cứ khoa học quy định công tác thành lập bản đồ địa hình ở Việt Nam đã đƣợc quy định thành Quy phạm thành lập bản đồ địa hình chuẩn tỷ lệ 1:100. Nhờ đó đã tạo ra sự thống nhất về cơ sở dữ liệu bản đồ địa hình trong cả nƣớc. Đây cũng là nguồn dữ liệu đầu vào quan trọng cho hầu hết các công trình nghiên cứu về địa lý, môi trƣờng hiện nay. + Cùng với đó là công tác thành lập hệ thống các bản đồ địa chính đã đƣợc Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng ban hành nhiều thông tƣ, quyết định, các văn bản hƣớng dẫn cụ thể là Quy phạm thành lập bản đồ địa chính ở các tỷ lệ từ 1:10.
Đây là căn cứ khoa học quan trọng để thống nhất thành lập hệ thống bản đồ địa chính, góp phần thống nhất cơ sở dữ liệu địa chính trong cả nƣớc, phục vụ đắc lực cho công cuộc quản lý đất đai ở nƣớc ta. + Về giao thông có “Tập bản đồ giao thông Việt Nam”, do tiến sĩ Lê Phƣớc Dũng cùng cộng sự chỉ đạo biên tập nội dung và đƣợc NXB Bản đồ ấn hành năm 2006. - Các công trình đi sâu nghiên cứu phản ánh các vấn đề của từng địa phƣơng, thƣờng đƣợc UBND tỉnh hoặc sở chuyên ngành đứng ra chủ trì thực hiện nhƣ:Atlas Đồng Nai - công trình có sự tham gia của trên 100 nhà khoa học, cán bộ, chuyên gia, tiến hành thành lập Atlas Đồng Nai. Atlas Đồng Nai gồm 146 bản đồ phù hợp với 15 chƣơng chuyên đề từ tổng quan đến quy hoạch.
Trong đó, chƣơng đất đai có số lƣợng bản đồ nhiều nhất (20 bản đồ) thể hiện rõ đặc điểm thổ nhƣỡng, đặc trƣng nông hóa của các loại đất chính, hiện trạng sử dụng đất của toàn tỉnh và các huyện trong tỉnh… Thành quả này là thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về cơ sở khoa học của bản đồ, ứng dụng tinh tế vào nghiên cứu phản ánh toàn diện các mặt từ tự nhiên đến KT - XH của tỉnh Đồng Nai. Điều này cũng mở ra một số hƣớng nghiên cứu về Hải Dƣơng mà luận án đang nghiên cứu. - Ngoài ra, còn một số luận án tiến sĩ nghiên cứu thành lập bản đồ ứng dụng trong đời sống, KT - XH nhƣ: luận án tiến sĩ ngành Địa lý Tự nhiên “Đánh giá tổng hợp môi trường sinh thái phục vụ quy hoạch sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững tỉnh Bắc Giang” của Tiến sĩ Đỗ Văn Thanh; luận án tiến sĩ Địa lý “Nghiên cứu - 25 - xây dựng bản đồ thoái hóa đất tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông phục vụ sử dụng bền vững tài nguyên đất”, của tiến sĩ Lƣu Thế Anh,… các luận án này ít nhiều cũng đã vận dụng cơ sở khoa học của bản đồ vào giải quyết những vấn đề thực tế của đề tài trong quy hoạch, sử dụng hợp lý tài nguyên hoặc trong giảng dạy địa lý. - Ở Việt Nam, trong những năm gần đây mới bắt đầu tiếp cận các chỉ số CLMT để đánh giá tổng hợp CLMT của từng thành phần môi trƣờng (không khí, nƣớc và đất) dựa trên các chỉ số của Mỹ và một số nƣớc khác.
Cụ thể: + Đối với môi trƣờng nƣớc, năm 2010 Tổng cục Môi trƣờng ban hành sổ tay hƣớng dẫn “Phương pháp đánh giá chất lượng nước bằng chỉ số WQI (Water Quality Index)”.