CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐẦU TƯ CHO MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1. Cơ sở lý luận về đầu tư môi trường trong các dự án đầu tư Khái niệm dự án đầu tư: Theo Luật đầu tư 2014 (67/2014/QH13, điều 1), Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Tóm lại dự án đầu tư là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các biện pháp quản lý, cấp phép đầu tư. Nó là căn cứ để nhà đầu tư triển khai hoạt động đầu tư và đánh giá hiệu quả của dự án.
Và đặc biệt quan trọng trong việc thuyết phục chủ đầu tư quyết định đầu tư và tổ chức tín dụng cấp vốn cho dự án. Các loại hình và mục tiêu điển hình của dự án đầu tư: Dự án đầu tư có rất nhiều loại hình được thực hiện cho những mục tiêu cụ thể khác nhau. Mỗi loại hình giữ một hay nhiều các mục tiêu giúp cho dự án được hoàn thiện và đạt được năng suất cao hơn. Có thể kể qua một số loại hình cụ thể như: Duy tu bảo dưỡng giúp duy trì công tác vận hành và trang thiết bị hiện có.
Cải tiến hệ thống, trang thiết bị làm thay đổi quy trình, trang thiết bị hiện có; cải tiến hệ thống quản lý và thông tin nhằm tăng hiệu suất, giảm chi phí, tăng công suất và cải tiến chất lượng sản phẩm. Thay thế hệ thống thiết bị cũ kỹ, lạc hậu hay đã hư hỏng hoặc hệ iv thống quản lý và thông tin lạc hậu, kém hiệu quả Mở rộng quy mô mua sắm và lắp đặt dây chuyền mới, tạo ra dòng sản phẩm mới Cải thiện độ an toàn trong môi trường làm việc của công nhân. Khái niệm đầu tư môi trường trong các dự án đầu tư: Đầu tư môi trường (hay đầu tư cho bảo vệ môi trường) trong các dự án đầu tư, dù là đầu tư mới hay đầu tư mở rộng, đều hướng tới mục tiêu giảm sử dụng nguyên vật liệu độc hại trong quá trình thực hiện dự án; giảm mức phát thải các chất thải rắn, lỏng, khí và các tác động tiêu cực khác đến môi trường; tăng cường tái chế các chất thải hoặc lắp đặt hệ thống xử lý chất thải nhằm tuân thủ các quy định pháp luật về môi trường. Đầu tư cho môi trường (hay đầu tư cho bảo vệ môi trường) là đầu tư phát triển, vì việc bảo vệ và duy trì các chức năng của môi trường là điều kiện cho sự phát triển kinh tế một cách bền vững.
Trong quản lý kinh tế, đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Đầu tư MT tại các doanh nghiệp thường được phản ánh qua hoạt động đầu tư liên quan đến việc tuân thủ các quy định môi trường của cơ quan quản lý nhà nước và các hoạt động ngăn ngừa ô nhiễm do tự nguyện hoặc áp lực thị trường. Sự cần thiết đầu tư cho môi trường trong dự án đầu tư: Trong quá trình hội nhập Quốc tế của đất nước, môi trường hiện đang bị xuống cấp nhanh, có nơi, có lúc đã đến mức báo động; đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước bị suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng nề; khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có qui hoạch; đa dạng sinh học bị đe doạ v nghiêm trọng, điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không đảm bảo. Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ; quá trình đô thị hoá, sự gia tăng dân số quá cao, tình trạng đói nghèo chưa khắc phục được tại một số vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; các thảm hoạ do thiên tai và những diễn biến xấu về khí hậu toàn cầu đang tăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường.
Các yếu tố ảnh hưởng đầu tư cho môi trường trong các dự án đầu tư: Các dự án đầu tư tác động đến môi trường là các dự án đầu tư vào các tài sản dài hạn nhằm khắc phục, hạn chế, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường từ các hoạt động của Doanh nghiệp và đầu tư vào quá trình sản xuất sạch hơn (quá trình sản xuất và sản phẩm thân thiện với môi trường), các dự án đầu tư có đặc tính môi trường là thời gian phát huy tác dụng lâu dài, mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích về kinh tế, dự án có mang lại các chi phí lợi ích về môi trường như tiết kiệm, giảm rác thải, dự án có giúp doanh nghiệp cải thiện các chỉ số môi trường không, dự án có giúp giảm thiểu, ngăn chặn ô nhiễm môi trường không. Đặc điểm của các dự án đầu tư có đặc tính môi trường là thời gian phát huy tác dụng lâu dài, mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích về kinh tế xuất phát từ việc nâng cao hình ảnh và danh tiếng, các dòng thu tiền thường phát sinh ở thời điểm cuối dự án. Nhận dạng đặc tính môi trường của dự án là không đơn giản vì đối với các dự án đầu tư vào tài sản phục vụ trong hoạt động môi trường như đầu tư cho thiết bị ngăn ngừa và giảm thải ô nhiễm thì dễ dàng xác định tính chất môi trường của dự án. Tuy nhiên, với các dự án đầu tư vào thiết bị sản xuất không phải trong hoạt động môi trường thì không đơn giản để xác định tính môi trường hay kinh tế của một dự án vì tất cả các dự án khi hoạt động đều có liên quan đến yếu tố môi trường như sử dụng nguyên liệu, năng lượng, xả thải… vi 1.
Kinh nghiệm quốc tế về đầu tư môi trường trong các dự án đầu tư Kinh nghiệm của Mỹ: Điều tra về chi phí giảm thải (Pollution Abatement Costs and Expenditures - PACE) năm 1999 và 2005 cho thấy tỷ lệ chi phí vốn đầu tư bảo vệ môi trường trong tổng chi phí vốn đầu tư của các công ty ở Mỹ là khoảng 3,5 - 5,1%. Kinh nghiệm của Canada: Việc đầu tư để bảo vệ và cải thiện môi trường luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong các hạng mục đầu tư ngay từ ban đầu. Ngành khai thác dầu khí, khí đốt: dành 40% chi phí vốn cho bảo vệ môi trường. Ngành khai thác dầu mỏ và than đá: đầu tư cho các hoạt động môi trường là 20% tổng mức đầu tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Có thể thấy đối với ngành sản xuất trực tiếp như khai khoáng, đầu tư cho môi trường được đặt một vị trí quan trọng và chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng mức đầu tư của doanh nghiệp. Mức đầu tư có thể lên đến 20- 40% trên tổng mức đầu tư toàn doanh nghiệp và Ngành khai thác này cũng là ngành chi nhiều nhất cho các hoạt động khắc phục, phòng ngừa và bảo vệ môi trường. Kinh nghiệm của Ấn độ: Tại Ấn Độ, các dự án cho môi trường được đề xuất sẽ tập trung vào các ngành công nghiệp gây ô nhiễm nhất, như đã được xác định trong bối cảnh dự án trước đó và sẽ bao gồm ba thành phần: (i) một bộ phận thể chế; (ii) một thành phần đầu tư và (iii) một hợp phần hỗ trợ kỹ thuật. Chính phủ Ấn Độ sẽ cung cấp từ số tiền thu được từ tín dụng IDA (25 triệu đô la mỹ) (Nguồn: Bekir A.
Onursal, 2003, Implementation Completion Report "The Government of India For An Industrial Pollution Prevention Project") vii 22,5 triệu đô la Mỹ Bộ Môi trường và Rừng (MOEF) cho các hợp phần hỗ trợ về thể chế và kỹ thuật; 0,5 triệu đô la Mỹ tương đương IDBI sẽ hoạt động như một cơ quan của Chính phủ để tài trợ cho các nghiên cứu tiền đầu tư thuộc hợp phần hỗ trợ kỹ thuật; Tương đương 2.0 triệu đô la Mỹ để hỗ trợ trực tiếp trên cơ sở trợ cấp cho các Nhà máy xử lý Nước thải thông thường qua IDBI. Kinh nghiệm của Israel Israel sử dụng chính sách tài khóa và chính sách thu chi hoặc thu hút thu nhập để thúc đẩy các công ty nội bộ hóa chi phí môi trường phát sinh trong suốt vòng đời của sản phẩm. Dự án được hình thành và thực hiện chặt chẽ với nhiều dự toán xử lý các vấn đề cơ bản. Tuy nhiên vấn đề của dự án phát sinh thêm là không thể tránh khỏi.
Kinh phí đầu tư toàn bộ tự án (Nguồn: The Greening Of The Industry-Oct-94, 01 Oct 1994, Israel Environment Bulletin Autumn 1994- 5755) Một số NIS 500 triệu sẽ được cung cấp trong 4 năm Hơn 2/3 số tiền đầu tư sẽ được yêu cầu cho việc điều trị và giám sát ô nhiễm không khí (35%) và xử lý nước thải (28%). Trợ cấp chính phủ cho các nhà máy công nghiệp ~ 35% khoản đầu tư (với mức giá trần = 1 triệu của NIS) 1. Bài học rút ra Mặc dù các dự án nước ngoài hình thành có gặp phải những vấn đề thường gặp hay phát sinh, tuy nhiên, chính sách đưa ra ngoài việc thực hiện đúng mục tiêu đề ra còn hạn chế thậm chí là giải quyết những vấn đề đó. Các chính sách được hình thành và thực hiện bám sát chặt chẽ vào mục viii tiêu, giúp các nước xác định được rõ con đường đi, phát triển hoàn thiện theo hướng phát triển bền vững cả về kinh tế, chính trị, xã hội.
Bài học kinh nghiệm từ các nước giúp cho Việt Nam học hỏi và rút kinh nghiệm từ đó tính toán, quy định cụ thể về việc đưa ra mức đầu tư như thế nào cho môi trường trong các dự án. Bên cạnh đó cần xem xét chấm dứt hoặc hạn chế một số dự án đã có thừa và gây ô nhiễm như lọc khí, hoá dầu. Không nên cấp phép cho nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài tránh gây thiệt hại chung, gây thảm hoạ môi trường. Cụ thể như các dự án sắt thép công nghệ nhiệt điện lò cao, các dự án xi măng, dệt và nhuộm… Đây là những dự án có nguy cơ gây ô nhiễm cao, một số sản phẩm chúng ta có nguy cơ dư thừa Chương 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CHO MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM 2.