CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 CÁC NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ Ở NƯỚC NGOÀI Kế toán quản trị nói chung, kế toán quản trị chi phí nói riêng đã có sự phát triển mạnh mẽ, thể hiện rõ vai trò của mình trong công tác quản trị doanh nghiệp, đáp ứng các yêu cầu của các nhà quản trị trong nền kinh tế thị trường. Đồng thời cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học với số lượng lớn các công trình nghiên cứu. - Jonas Gerdin (2005) “Management accounting system design in manufacturing departments: an empirical investigation using a multiple contingencies approach”, Accounting, Organizations and Societ, Vol.2, Page 99-126: trình bày nội dung nghiên cứu thiết kế, tổ chức kế toán quản trị phù hợp với điều kiện cụ thể của các doanh nghiệp. Tác giả đã chỉ ra các nhân tố tác động đến việc tổ chức hệ thống kế toán quản trị tại các doanh nghiệp, bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Để phân tích các nhân tố tác động bên trong doanh nghiệp đến lựa chọn mô hình kế toán quản trị, tác giả đã khảo sát 126 doanh nghiệp thuộc các ngành nghề kinh doanh khác nhau trên thế giới và đã khẳng định được ảnh hưởng của hai nhân tố bên trong doanh nghiệp tác động trực tiếp đến thiết kế kế toán quản trị là: bộ máy quản lý (cấu trúc tổ chức) và sự tác động lẫn nhau giữa các phòng ban chức năng trong doanh nghiệp. - Michèle Pomberg và nnk (2012), “Management accounting information systems:a case of a developing country Vietnam”, Asia-Pacific Journal of Accounting & Economics, Apr, Vol. 1, Page 100-114: nhóm nghiên cứu đã công bố kết quả khảo sát tại 53 bệnh viện tại thành phố Hà Nội và 9 tỉnh lân cận đưa ra kết luận về các nhân tố: môi trường hoạt động, sự thay đổi của các chính sách Nhà nước về y tế, những thay đổi về tổ chức của hệ thống y tế, nhu cầu thông tin về chi phí của các CFO,… đã đòi hỏi các bệnh viện Việt Nam cần phải ứng dụng các lý thuyết quản trị cao cấp trong quản lí điều hành. Nhóm nghiên cứu cũng đã tìm hiểu về khả năng áp dụng hệ thống kế toán quản trị chi phí vào các nước đang phát triển, đã đưa ra kết luận c 6 nghiên cứu về điều kiện tổ chức áp dụng các phương pháp quản trị chi phí hiện đại như phương pháp Activity - Based Cost (ABC), Just in time (JIT) vào các bệnh viện Việt Nam là cần thiết và phù hợp.
Akira Nishimura (2003), trong nghiên cứu “Management Accounting feed forward and Asian perspectives” đã đề cấp đến sự phát triển của kế toán quản trị ở châu Á mà điển hình là Nhật. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra lý do của sự phát triển trên chịu sự ảnh hưởng của truyền thống văn hóa, đặc tính, quan điểm, phương thức quản lý khác nhau đã hình thành phương pháp xác định chi phí mục tiêu (Target costing). Horngen, Foster, Datar, Rajan, Ittner (2008) trong nghiên cứu “Cost Accounting Managerial Emphasis” đã đề cập đến việc lập dự toán tổng quát trong doanh nghiệp. Xuất phát từ chiến lược chung của doanh nghiệp kế toán quản trị sẽ lập dự toán tổng quát, sau đó từ dự toán tổng quát sẽ lập các dự toán cụ thể.
Naughton-Travers, Joseph P. (2009) trong nghiên cứu “Activity-Based Costing: The new Management Tool” đề cập đến các thông tin và tính ưu việt của phương pháp kế toán chi phí theo hoạt động. Luận án tiến sĩ “New dimensions of cost type information for decision making in the wine industry” của Topor Ioan Dan bảo vệ tại trường Đại học Alba Iulia “1 Decembrie 1918” năm 2013. Nội dung của luận án nghiên cứu các khía cạnh của thông tin chi phí cho việc ra quyết định trong ngành sản xuất rượu vang ở Bungaria.
Trong luận án tác giả đã phân tích vai trò của thông tin chi phí trong quá trình ra quyết định, các bất cập hiện có của kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất rượu vang ở Bungaria và đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp này. Các giải pháp của tác giả nhấn mạnh đến việc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí phục vụ cho các chức năng lập kế hoạch, kiểm soát và định giá. Luận án tiến sĩ “Explaining Prosesses of change in management Acounting: The case of a Portuguese Postal company” của Rui Manuel da Costa Robalo (2007). Luận án đã nghiên cứu sự thay đổi của kế toán quản trị chi phí nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin cho quản trị chiến lược trong các doanh nghiệp bưu điện ở Bồ Đào Nha trong giai c 7 đoạn 2003-2006.
Các giải pháp được tác giả đề xuất nhằm thay đổi hệ thống kế toán quản trị chi phí cho phù hợp với hệ thống các chỉ tiêu đánh giá trọng yếu (Key performace indicators – KPI) được xây dựng cho các doanh nghiệp bưu điện Bồ Đào Nha.2 CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến kế toán quản trị và tổ chức kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp Việt Nam được tác giả tiếp cận theo các nội dung như sau: Luận án tiến sĩ “Phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng KTQT vào các DN Việt Nam” của tác giả Phạm Văn Dược (1997), 159 trang. Trong công trình này, tác giả đã có những nghiên cứu cụ thể và đề xuất các biện pháp ứng dụng KTQT vào thực tiễn trong các DN Việt Nam. Tuy nhiên, các đề xuất của tác giả mới chỉ tập trung vào các giải pháp phân tích chi phí phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn, chưa phân tích được ảnh hưởng của các chỉ tiêu đánh giá đến hành vi của nhà quản trị cũng như chưa gắn với các DN hoạt động trong môi trường kinh doanh cụ thể, nghiên cứu này còn mang tính chất chung cho tất cả các loại hình DN trong khi tính linh hoạt của KTQT lại rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng ngành. Luận án tiến sĩ: “Xây dựng nội dung và tổ chức KTQT cho các DNNVV ở Việt Nam”, Phạm Ngọc Toàn (2010), Trường Đại học Kinh Tế TP.
Luận án của tác giả đã tổng hợp, phân tích, trình bày các nội dung và tổ chức KTQT trong doanh nghiệp, cũng như đã tổng hợp kinh nghiệm nội dung tổ chức KTQT của một số quốc gia ở Châu Á và các nước phát triển khác. Đối với trong nước, tác giả cũng đã khảo sát hiện trạng tình hình tổ chức cũng như nội dung KTQT đang áp dụng trong các DNNVV, từ đó tác giả đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hỗ trợ cho các DNNVV tổ chức tốt KTQT, tăng cường cung cấp thông tin phục vụ cho các quyết định quản lý. Luận văn: “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần vận tải biển Đà Nẵng” – Trần Thị Phương Linh (2012). Để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công c 8 ty cổ phần vận tải biển Đà Nẵng, tác giả đã đưa ra các giải pháp như: xác định lại đối tượng hạch toán chi phí để phục vụ cho việc tính giá thành được chính xác hơn; đề xuất phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí nhằm phục vụ nhu cầu hạch toán và quản lý chi phí; hoàn thiện hệ thống báo cáo về chi phí nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản trị chi phí.
Luận văn: “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty CP Dược Danapha” – Đỗ Thị Huyền (2013). Tác giả đã chỉ ra công tác quản trị chi phí ở Công ty CP Dược Danapha thể hiện qua nhận diện và phân loại chi phí, công tác lập dự toán chi phí, các báo cáo về chi phí SXKD, tính giá thành sản phẩm, kiểm soát chi phí. Tác giả Phùng Lệ Thủy trong bài viết “Bàn về việc áp dụng kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam” đăng trên tạp chí nghiên cứu khoa học kiểm toán (2013). Trong bài viết này tác giả giới thiệu một số giải pháp để có thể áp dụng kế toán quản trị chi phí vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.
Đồng thời đưa ra hướng hoàn thiện việc thu thập thông tin về kế toán quản trị chi phí nhằm phục vụ cho cả kế toán tài chính và kế toán quản trị. Tác giả Hồ Mỹ Hạnh với đề tài “Tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp may Việt Nam” (2014). Trên cơ sở lý thuyết về Hệ thống thông tin quản trị doanh nghiệp và thực tiễn quản trị doanh nghiệp tại các doanh nghiệp may, luận án khẳng định sự tồn tại mối quan hệ giữa hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí và hiệu quả quản trị doanh nghiệp. Đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp may, luận án đã chứng minh rằng mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp và nhu cầu thông tin kế toán quản trị chi phí từ phía nhà quản trị doanh nghiệp là nhân tố quan trọng nhất trong việc thiết lập hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp.
Luận văn: “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp lĩnh vực CNTT khu vực Tp.HCM” – Bùi Thị Nhân (2015). Tác giả nghiên cứu thực trạng về áp dụng KTQT chi phí trong các DN hoạt động trong lĩnh vực CNTT trên địa bàn TpHCM, tác giả đã xây dựng mô hình các nhân tố ảnh c 9 hưởng để phân tích, đánh giá. Kết quả cho thấy, các nhóm nhân tố bào gồm: quy mô doanh nghiệp, trình độ chuyên môn, công nghệ sản xuất tiên tiến. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác KTQT trong các DN lĩnh vực CNTT khu vực Tp.
Luận án: “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị cho các DN vừa và nhỏ tại VN” – Trần Ngọc Hùng (2016) đã nghiên cứu bằng phương pháp hỗn hợp kết hợp nghiên cứu định tính (như phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia) và định lượng (như phương pháp kiểm định trung bình mẫu độc lập và chi bình phương, phân tích hồi quy đa biến, phân tích nhân tố khám phá), tác giả đã xác định được các nhóm nhân tố bao gồm: mức độ sở hữu của nhà nước, mức độ cạnh tranh của thị trường, văn hoá doanh nghiệp, nhận thức của người chủ/điều hành doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, chi phí cho việc tổ chức KTQT và chiến lược doanh nghiệp lần lượt tác động đến việc vận dụng KTQT trong DNNVV Việt Nam theo mức tác động từ cao xuống thấp.